Trần Phong Vũ
I. Vì sao không chỉ một hai cuốn, mà cần có một Bộ phim nhiều tập?
Phải nói ngay rằng, nếu không có bộ phim đồ sộ “Viet Nam War” do hai đạo diễn Ken Burns và Lynn Novick thực hiện 7 năm trước với chi phí 30 triệu Mỹ Kim do PBS trình chiếu 18 tiếng, sẽ không có nhu cầu phải phản biện. Đành rằng cuốn phim của nhà sản xuất Phạm Văn Nam và đạo diễn Nguyễn Đức đã nói lên khá nhiều điều mới. Thí dụ như câu nói mỉa mai của cựu Đại sứ Bùi Diễm, chúng ta không ở Thiên Đàng nhưng chắc chắn cũng không bị đọa đầy trong Hỏa Ngục như đồng bào đang sống ở miền bắc vĩ tuyến 17! Chỉ với so sánh ngắn, gọn, súc tích này đã lật ngược luận điệu ngả nghiêng, bóp méo sự khác biệt trắng đen về cuộc sống thường nhật của dân chúng và trình độ văn minh, phát triển giữa hai chế độ Bắc/Nam, rải rác qua 18 tiếng trình chiếu trong bộ phim đồ sộ của cặp đạo diễn Burns/ Novick.
Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều luận điệu sai trái khác cần được nói ra, không chỉ để phản bác hành vi vo tròn, bóp méo sự thật trong bộ phim lớn này. Hơn thế, trong nhiều trường hợp nó còn là cơ hội để tự nhận ra sự thiếu viễn kiến cần thiết của giới lãnh đạo miền Nam khi không thấy căn tính hiếu chiến vộ độ của CSBV đã thúc đẩy chúng trước khi thôn tính nửa đất nước đã bắt đầu chuẩn bị cho tham vọng làm chủ toàn thể lãnh thổ Việt Nam! Dĩ nhiên sự yếu kém này không chỉ giới hạn về phía nhà cầm quyền Việt Nam Cộng Hòa, mà chính người Mỹ cũng phải chia phần trách nhiệm.

Chủ điểm người viết muốn bàn tới trong bài thứ 2 này mang giá trị vừa phản biện gian ý né tránh và cố tình bóp méo nhiều sự thật lịch sử trong chiến tranh Việt Nam của bộ phim “Vietnam War”, vừa nêu lên một bài học lớn mà cả người Mỹ cũng cần phải học ở vị trí một siêu cường từng can dự quá sâu vào chiến cuộc Việt Nam. Chúng tôi muốn nhắc tới nội dung bài “Bắt Trẻ Đồng Xanh” (BTĐX) của một cây bút hàng đầu trong văn học Việt Nam. Nhà văn quá cố Võ Phiến. Bài viết đã được công bố rộng rãi từ năm 1968, 5 năm sau cái chết thảm khốc của ba anh em Tổng Thống Ngô Đình Diệm, kéo theo sự sụp đổ Đệ Nhất Cộng Hoà Việt Nam. Nó cũng dẫn tới cảnh tan hoang của miền Nam do những vụ tranh chấp quyền bính của tập đoàn Tướng Lãnh tham nhũng, bất tài, phản chủ do Dương Văn Minh cầm đầu. Hệ quả tiếp theo là Hồ tặc nhân cơ hội ấy ra lệnh mở cuộc Tổng Công Kích trên toàn miền nam giữa ngày Tết Nguyên Đán Mậu Thân, 1968.
Và đấy cũng là một trong những lý do khiến người viết tin rằng cần phải có một bộ phim nhiều tập mới mong dứt điểm những nọc độc do kẻ ác muốn gieo vào công luận, đặc biệt các thế hệ trẻ, về thực chất cuộc chiến tranh chúng ta không bao giờ mong đợi.
II. Câu chuyện “Bắt Trẻ Đồng Xanh” cho thấy những gì?
Nhan đề Bắt Trẻ Đồng Xanh (BTĐX) không do tác giả tự đặt mà mượn lại từ cuốn sách của Phùng Khánh, dịch truyện “The Catcher in the Rye” của J.D. Salinger. Sách Phùng Khánh do Thanh Hiên xuất bản năm 1967 tại Sài Gòn. Sở dĩ ông dùng lại nhan đề này vì nó nói lên dã tâm thâm độc của CSBV là ra lệnh cho bọn du kích thuộc Trung Ương Cục Miền Nam lùng sục bắt cóc trẻ nít tại các vùng thôn quê miền Nam để tiếp tục dùng đường mòn HCM, đẩy ngược đám trẻ ấy ra Bắc. Để làm gì, sẽ đề cập sau.
Nhà văn Võ Phiến viết chuyện này năm 1968, năm xảy ra biến cố cộng sản Bắc Việt (CSBV) khởi động vụ tàn sát nhiều ngàn người tại cố đô Huế trong biến cố Mậu Thân, bao gồm các Giáo sư đại học, các chuyên gia, Giáo sĩ ngoại quốc theo khẩu lệnh qua một bài thơ của Hồ Chí Minh với câu kết “Ước mong chiến thắng sẽ về Ta”. Tính đến nay đã 58 năm.
Mở đầu, tác giả nói tới Hiệp Định Genève chia đôi đất nước. Ông viết:
“Các chính khách miền Nam lên tiếng bàn bạc rôm rả vể đấu tranh chính trị, kế hoạch phát triển kinh tế tương lai… Trong lúc ấy nhóm lãnh đạo ở Hà Nội lặng lẽ lo liệu công việc mai sau: tức một cuộc chiến tranh khác. Một cuộc chiến tranh quân sự hẳn hòi. Và họ tiến hành thực hiện, chuẩn bị, ngoài sự chú ý của dư luận: Vì các bình luận gia có tiếng, gần như không mảy may quan tâm đến chuyện này….Riêng tác giả, ông cho rtằng “đấy là chuyện đáng quan tâm Bởi vì nếu ta mù tịt về ý định của đối phương trong tương lai thì trong cuộc đối thoại thương thuyết với họ hiện thời ta làm sao biết đặt ra những điều kiện cần thiết”?.
Trong 300 ngày Hiệp Định cho phép người dân hai miền Nam/Bắc, bao gồm cả dân thường lẫn quân-cán-chính, được toàn quyền tự do chọn nơi cư ngụ. Khi ấy, giới cầm quyền hai bên đã nghĩ gì và làm gì? Theo tác giả, trong khi miền Nam bận tâm vào việc trước mắt là lo nơi ăn, chốn ở tạm thời cho ngót một triệu đồng bào, gồm quân, dân, cán, chính từ miền Bắc vào. Xa hơn là tính tới kế hoạch định cư lâu dài cho bà con tị nạn, thì vế phía CSBV, họ tập trung vào những chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh kế tiếp với ý đồ thâu tóm nốt phần đất miền Nam như ý đồ của Lê Duẩn, để dâng cho Nga-Tàu. Kế sách này chia thành 2 giai đoạn. Giai đoạn đầu, khởi sự trước và sau khi làm chủ phân nửa đất nước năm 54. Đến năm 68 Hồ tặc đích thân ra lệnh mở cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân vào đêm trừ tịch bằng một bài thơ khích động chiến sĩ với câu kết “Tiến lên! Chiến thắng ắt về ta!” nhưng bất ngờ bị thảm bại đau đớn, đành chuẩn bị cho giai đoạn 2.
Trở lại với giai đoạn 1, tính tới năm 68 đã 14 năm trôi qua. Không phải chỉ riêng nhà văn Võ Phiến, tất cả những ai theo dõi sát thời sự đều nhận ra tham vọng nuôi dưỡng chiến tranh của Hà Nội. Cho nên, trước và sau cái gọi là hòa bình được tái lập, chúng đã bắt tay ráo riết chuẩn bị cho cuộc chiến đẫm màu sau này. Đầu tiên chúng ra lệnh cho thuộc hạ chôn giấu vũ khí, đạn dược tại bất cứ nơi nào có thể. Trong thời gian làm việc tại Tổng Đài Phát Thanh Quốc Gia ở Sài Gòn sau 54, bản thân tôi đã nhận được các bản tin cho hay các lực lượng Dân Vệ và Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã phát hiện nhiều hầm vũ khí đủ loại được chôn giấu tại nhiều địa phương. Từ các vùng xa xôi, hẻo lánh trong Nam, các tỉnh cực bắc sát Bến Hải, kể cả những vùng ven đô như Tân Lập, Hạnh Thông Tây, Giồng Ông Tố, không xa Sài Gòn!

Một trong những toan tính kinh khủng, bất nhân khó ai có thể ngờ tới được Hà Nội mưu tính thực hiện trong thời gian 300 ngày, quân-dân-cán-chính hai miền có quyền tự do chọn miền theo một điều khoản trong Hiệp Định Geneve. Khác hẳn với phương sách đơn sơ, giản dị của giới cầm quyền Việt Nam Cộng Hòa trong nam, theo lệnh của CSBV, tất cả các lực lượng vũ trang của chúng từ nam vĩ tuyến trở vào, bộ đội, du kích quân, các cảm tình viên… được phân chia thành nhiều loại.
Loại 1.- Những thành phần được coi là trung kiên, lanh lợi chưa bị lộ diện, bất kể nam nữ, địa vị xã hội đều được lệnh ở lại địa phương với mục tiêu tìm cách thâm nhập các cơ phận hành chánh cũng như an ninh của chính quyền sở tại.
Loại 2.- Những thành phần trai trẻ, xuất sắc, có ngoại hình coi được trong quân đội, du kích được chọn sẽ tập kết ra Bắc. Tất cả lớp người trên 50 tuổi, yếu đuối, bệnh tật được khuyến khích ở lại chờ lệnh địa phương, không cho tập kết để tránh cho chế độ miền Bắc phải nuôi ăn lớp người vô dụng!
Loại 3.- Những cán bộ thuộc nữ giới còn trẻ sẽ đươc phân bổ thi hành tác vụ đặc biệt khi có lệnh.
Loại 4.- Các địa chủ từng bị bắt bớ tra hỏi, tranh cướp tài sản được chúng công khai xin lỗi, xin đền bù nhằm hòa giải. Với những địa chủ có tinh thần quốc gia họ dứt khoát sẽ bị thủ tiêu để tránh hậu họa.

vũ khí ở miền Nam
Trong bốn loại kể trên, loại 2 được đảng chú ý tới hai yếu tố trẻ trung, khoẻ mạnh. nhất là có ngoại hình dễ coi, nằm trong một mưu toan quái dị, bất nhân, vô đạo mà chỉ bọn cộng sản cùng hung, cực ác mới nghĩ ra và đang tâm áp dụng. Ba ngày trước khi lớp bộ đội và du kích quân xuất sắc, trẻ trung này lên đường tập kết ra Bắc, đảng và mặt trận kín đáo tổ chức hàng trăm đám cưới tập thể vội vã cho họ ở nhiều nơi với cả ngàn cô gái trẻ bị ép buộc hoặc cảm tình viên nữ lỡ thời có sẵn. Tiếp theo đám cưới và các buổi liên hoan liên tục trong ba ngày đêm, cả ngàn chú rể bịn rịn từ giã các tân nương ra đi biền biệt, với những lời hứa hẹn bâng quơ. Và những nàng dâu bất đắc dĩ âm thầm nuốt tủi hận của những tân nương trong nghịch cảnh “vừa vui xum họp đã sầu biệt ly!”
Điều quái ác là nỗi đau không chỉ ngừng lại ở đấy. Một vài tuần hay một tháng sau, đa phần các cô dâu bất đắc dĩ ấy đã phát hiện dấu chỉ mang bầu, trong số không ít mới bước qua tuổi 14, 15! Như đã trù liệu trước, Đảng và Trung ương Cục đã chỉ thị cho lớp cán bộ nằm vùng tới thăm nom, an ủi, khích lệ, trấn an các đương sự và gia đình họ cho tới kỳ hạn những đứa bé ra đời không có cha bên cạnh trong ngót một năm sau. Từ đấy cho tới nhiều năm sau, sự quan tâm của đảng vẫn tiếp tục, nhưng dưới những hình thái khác. Đây là lúc có những phần tử trong bưng hoặc từ bắc thâm nhập miền nam xuất hiện với những cánh thư nói là của cha những đứa trẻ. Thật hay giả? Làm sao kiểm chứng?
Nhưng với những bà mẹ trẻ này, có còn hơn không. Họ nghe lời khuyên, líu ríu nặn óc viết thư hồi âm, nhưng liệu thư có được chuyển tới tay người nhận? Ai biết? Có điều với những chuyện như thế đảng cộng sản Hà Nội và Trung Ương Cục miền Nam đã thành công về nhiều mặt: một mũi tên bắn trúng nhiều mục tiêu, thu hoạch thêm được cả ngàn thành viên tích cực để đương nhiên trở thành cán bộ nằm vùng cùng với thân nhân, gia đình họ giăng mắc khắp các địa phương từ Bến Hải đến Cà Mau.
Nếu lấy từ ngày ký kết Hiệp Định chia đôi đất nước cho đến năm 1968, biến cố Tết Mậu Thân, làm chuẩn để đếm tuổi cả ngàn lũ trẻ sinh ra không cha, có thể nói chắc là chúng ở tuổi trên dưới 13, đủ để CSBV cho Cục Miền Nam gom lại cùng với những đứa trẻ được cán bộ, du kích tóm được trong các đợt BTĐX để tìm mọi phương tiện đưa vào bưng huấn luyện tiếp hoặc dầy ngược ra bắc trên hệ thống đưòng mòn mang tên họ Hồ nay đã được tu bổ thành các đường cao tốc với những đoàn công-voa di chuyển ngày đêm.
III. Nhà văn Võ Phiến nghĩ và nói gì về Hồ Chí Minh?
Là một người yêu nước chân thành, thuở thiếu thời, nhà văn Võ Phiến từng sống và hoạt động trong mặt trận Việt Minh. Nhưng khi chúng lộ mặt cộng sản, sau tháng 7 năm 54 đất nưóc chia đôi, bị kẹt lại một thời gian, ông đã kiếm đường vượt vĩ tuyến 17 phân chia nam bắc, tìm về phương nam tự do. Từ đấy cho đến ngày 30 tháng tư năm 75 ông phục vụ trong Bộ Thông Tin chính quyền Việt Nam Cộng Hòa và trở thành nhà văn lớn. Trong số cả trăm tác phẩm dài ngắn của ông, không thiếu những tiểu luận vạch trần bộ mặt phản dân, hại nước của tập đoàn gian ác cộng sản tương tự như tiểu luận BTĐX, kể cả sau này rời bỏ đất nước qua tỵ nạn tại Hoa Kỳ cho tới cuối đời.
Riêng tiểu luận BTĐX, khi đề cập những hành vi gian ác vô độ của họ Hồ, ông đã thẳng thắn nêu ra rất nhiều chứng liệu cho thấy mặt thật gian manh, xảo trá, quỷ mị, ác độc của con người từng núp dưới bút hiệu Trần Dân Tiên để tự tô vẽ thành tích cho chính mình. Nhưng ngay sau đoạn văn đó, với căn tính hiền lành, dễ mến trong văn phong cũng như trong cung cách xử kỷ tiếp vật, nhà văn đã không ngần ngại, thẳng thắn thú nhận:
“Những lời trên đây không được nhã nhặn. Quả thật không nhã nhặn. Và kẻ viết ra phải lấy làm ngượng về lời lẽ mình. Nhưng khi mình là dân một nước đã trải qua bao nhiêu năm khói lửa, rồi lại trông thấy trước mặt một viễn tượng đầy máu me, khi ấy nói về kẻ gây thảm họa thật khó giữ lòng bình thản để nói lời tao nhã”.
VI. Đôi điều suy tư, nhận định của người viết
Khi đề cập vấn đề trách nhiệm của chính quyền Việt Nam Cộng Hoà và Hoa Thịnh Đốn về sự thiếu viễn kiến để tiên liệu phương thức đề phòng hoặc hóa giải trước những trò lừa đảo, gian dối của CSBV cũng như các thế lực hậu thuẫn đàng sau chúng, người viết nghĩ nhiều tới vai trò các cố vấn Mỹ. Sẵn với ý nghĩ Hoa Kỳ là một siêu cường thế giới, tôi cho rằng khi đặt nặng vai trò cố vấn trong chiến tranh Việt Nam, hẳn Hoa Thịnh Đốn không chỉ chú trọng tới lãnh vực thuần túy quân sự. Hơn thế, chắc chắn họ còn quan tâm tới khía cạnh tham mưu để tiên liệu những kế sách, mưu toan nuôi chiến tranh của một đối phương vốn không chừa bất cứ thủ đoạn gian dối, độc ác nào để thắng đối phương. Như thế, sau ngày 30 tháng tháng tư năm 75, khi quân Mỹ và đoàn cố vấn của họ rút lui để cộng sản chiếm trọn phần lãnh thổ còn lại của Việt Nam, có bao giờ Hoa Thịnh Đốn nghĩ tới trách nhiệm liên đới của họ trước kết quả thãm khốc này không?
Người viết còn nhớ, thời Đệ Nhất Cộng Hoà, Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã thẳng tay chống lại đề nghị của Hoa Thịnh Đốn nhằm gia tăng số cố vấn Mỹ từ 100 lên tới con số ngàn để cài đặt tới các đơn vị hành chánh từ tỉnh tới quận lỵ. Câu hỏi đặt ra là phải chăng chính quyền ông Diệm đã nhận ra sự không cần thiết của hệ thống cố vấn Mỹ cũng như sau này đã quyết liệt chống lại dự tính đổ thêm quân Mỹ vào chiến trường Việt Nam vì tiên liệu việc này sẽ làm mất chính nghĩa trong cuộc chiến chống cộng như nhận định của nhà văn Vũ Thư Hiên trong cuốn phim đầu ra mắt cuối năm rồi.
Từ câu hỏi trên đây nảy sinh một câu hỏi khác: trong bộ phim đồ sộ với 18 giờ trình chiếu, hai đạo diễn Ken Burns và Lynn Novick có lúc dám thẳng thắn tiết lộ những sự kiện trần trụi, đáng xấu hổ này mà người Mỹ phải chia phần trách nhiệm?
Miền Nam California, Hoa Kỳ – những ngày đầu năm 2026
Trần Phong Vũ








































