Trần Phong Vũ
Bài 4 – Xem Thường Lãnh Đạo & Chiến Tích của QuânLực Việt Nam Cộng Hoà
Trở lại với cách nhìn của nhà văn Phạm Tín An Ninh (PTAN) đối với bộ phim của hai đao diễn Ken Bunrs và Lynn Novick, hôm nay người viết tiếp tục bàn về 2 điểm chót. Đó là thái độ khinh mạn đối với vị Tổng Thống khai sáng nền Cộng Hòa Việt Nam (điểm 5) và những chiến tích vang dội của những người lính đã góp máu (điểm 6) trong chế độ đó.
Ngay từ đầu mục số 5, tác giả PTAN đã chỉ ra tằng: “Cách hành xử sai lầm và ‘kẻ cả’ của Mỹ đối với một đồng minh, đã đưa đến sự thất bại tại Nam Việt nam”.
Theo ông, không có một vị lãnh đạo và cả người dân miền Nam nào muốn có sự hiện diện cùa quân đội Hoa Kỳ trên đất nước của họ. Chính Tổng thống Ngô Đình Diệm đã từng cực lực lên tiếng bác bỏ ý định của Hoa Kỳ, ngay từ thời Tổng thống J.F. Kennedy, muốn đưa quân vào Nam Việt nam. Chính hành vi “kẻ cả, xem thường đồng minh” ấy đã đưa đến cái chết thảm khốc của anh em Ông Diệm vào ngày 1.11.1963, tiếp sức cho tham vọng cướp nước của kẻ thù phương Bắc, dẫn tới sự sụp đổ của miền nam tự do, phú cường 12 năm sau!
Vẫn theo nhận định cùa nhà văn PTAN, chính TT Ngô Đình Diệm là người luôn phản đối việc Mỹ đưa quân sang Việt Nam, vì ông nghĩ như thế sẽ làm mất chính nghĩa cho công cuộc đấu tranh của dân chúng miền Nam bảo vệ tự do. Và nó cũng là cái cớ để Liên Xô và Trung Cộng vào cuộc, ra lệnh và hỗ trợ miền Bắc đưa quân vào đánh Nam Việt nam. Tác giả viết:
“Nên nhớ là nền cộng hòa non trẻ của Ông Ngô Đình Diệm được xây dựng tại miền Nam sau Hiệp định Genève 1954, trên những đống tro tàn, rác rưởi và nhiều phe nhóm bạo loạn của Pháp để lại, cùng lúc phải lo định cư cho hơn một triệu người dân di cư từ miền Bắc, trốn thoát chế độ CS. Nếu có đôi điều bất như ý cũng là lẽ tất nhiên. Nhưng đây lại là thời kỳ “vàng son” nhất mà người dân miền Nam được hưởng: giáo dục, kinh tế và cả quốc phòng phát triển tốt đẹp. Với kế hoạch Ấp Chiến Lược, chính quyền Ngô Đình Diệm đã tiêu diệt và loại gần hết đám CS nằm vùng tại Nam Việt Nam, do CS gài lại sau hiệp định Genève”.
I. Sự Bất Công Khi Nói Về Ông Diệm Và Ông Hồ
Nhắc tới một chi tiết về tinh thần bao dung, tha thứ mà ít người biết, hoặc biết không đầy đủ của TT Diệm, nhà văn họ Phạm kể rằng: “Có lẽ Ông là người lãnh đạo quốc gia duy nhất trên thế giới đã tha tội chết cho cả ba người từng giết hụt mình: Hà Thúc Ký, Phạm Phú Quốc và Hà Minh Trí (người ám sát Ông tại Ban Mê Thuột)”.
Trước khi thẳng thắn phê phán sự bất công quá lố của phim The Vietnam War khi nói về TT Diệm và ông Hồ, PTAN đã tự mình so sánh con người và nhân cách hai khuôn mặt lãnh đạo hai miền Nam Bắc. Ông cho hay: Trong khi Ngô Đình Diệm yêu nước, thương dân, đạo đức hơn gấp vạn lần, sống độc thân trọn đời, thì Hồ Chí Minh tự xưng mình là “Bác” của toàn dân, bắt mọi người phải tôn thờ ca tụng. Ông cho biết thêm: họ Hồ đã từng sống với nhiều người đàn bà, ngay cả với vợ một đồng chí của mình, và ra lệnh giết một cô con gái trẻ sau khi có con với ông ta và cô ấy tỏ ý muốn được công khai chấp nhận. Chưa hết, một tội ác điển hình của ông ta, khi ban hành Chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất, giết dã man hàng vạn người dân vô tội, trong đó có cả bà Nguyễn Thị Năm, người bị xử tử đầu tiên, là một ân nhân đã từng cưu mang ông cùng những cán bộ cao cấp, và trợ giúp rất nhiều cho tổ chức của ông. Nhắc tới bộ phim của hai đạo diễn Ken Burns và Lynn Novick, nhà văn và cũng là người lính Việt Nam Cộng Hoà (VNCH) họ Phạm nhấn mạnh:
“Trong Tập 1 The Vietnam War, người làm phim đã hết sức ca ngợi Hồ Chí Minh và bôi bẩn hình ảnh ông Ngô Đình Diệm một cách ác ý đến lố bịch.
II. Mỹ đã lợi dụng biến cố Phật Giáo ra sao?
Dựa vào những hiều biết bản thân cũng như thâm ý của nhóm làm phim, PTAN cho hay, người Mỹ đã lợi dụng một vài bất đồng của Phật Giáo, đi đêm và đứng đằng sau một số sư sãi quá khích, tạo nên tình trạng bất ổn liên tục tại miền Nam. Tuy nhiên, thực tế cho ông thấy rằng, sau ngày mất miền Nam, đã lộ ra rất nhiều sinh viên Phật tử đứng đầu các cuộc tranh đấu chống Ngô Đình Diệm vốn là những đảng viên hoặc đã hợp tác với Cộng sản. Tỉ dụ như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Thị Đoan Trinh … tại Huế. Và những khuôn mặt khác như Đỗ Trung Hiếu, Đỗ Hữu Ưng, Lê Hiếu Đằng, Lê Văn Nuôi, Huỳnh Tấn Mẫm … tại Sài gòn. Sau khi chế độ Ngô Đình Diệm đã bị lật đổ, dù không còn vin vào lý do “đàn áp Phật giáo” được nữa, nhưng những người mượn danh Phật Giáo này vẫn tiếp tục phản đối các chính quyền kế tiếp, gây bất ổn cho cả nước, đặc biệt tại Huế, miền Trung Việt nam.
Đối với người Mỹ, họ thừa biết như vậy, nhưng vẫn cố tình làm ngơ. Không những thế họ còn dựa vào những sự kiện bất ổn chính trị này để biện mình cho việc đưa quân vào Nam Việt nam, cùng chủ trương lật đổ và giết ông Diệm, người luôn chủ trương giới hạn tối đa sự hiện diện đông đảo Cố Vấn và quân nhân Mỹ trong chiến cuộc Việt Nam. Trước sau, từ TT Diệm cho tới các chính quyền miền nam sau này để chỉ yêu cầu được viện trợ trong thời gian miền Nam đang từng bước xây dựng nền cộng hòa non trẻ của mình.
Vẫn theo cách nhìn của nhà văn họ Phạm, điều trịch thượng và “phi chánh trị” quái đản khác của người Mỹ là từ khi đưa quân ào ạt vào Nam Việt Nam, họ mặc nhiên xem cuộc chiến này là của họ. Trong tất cả các cuộc đàm phán, ký kết hiệp định, Mỹ tự cho mình ngang hàng với Bắc Việt và mặc nhiên coi Nam Việt Nam đồng đẳng với Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (MTGPMN). Trong khi ai cũng biết rằng: MTGPMN chỉ là một nhóm tay sai do Hà Nội dựng lên để lừa bịp quốc tế. Chỉ cần nhìn vào sự kiện trước mắt là ngay sau khi vừa cướp được Nam Việt Nam, cộng sản đã trắng trơn khai tử MTGPMN, tất cả những nhân vật trong chính phủ của Mặt Trận này không nhận được bất cứ một chức vụ quan trọng nào, và bị loại dần ra khỏi guồng máy lãnh đạo, ai cũng dễ dàng nhận ra trò hề này. Điều đặc biệt tệ hại hơn, Hiệp định Paris ký ngày 27.1.1973 là một áp đặt trắng trợn để ngay sau đó Hoa Kỳ phủi tay khi cộng sản Bắc Việt (csBV) công khai ngang nhiên vi phạm chính những điều chúng đã ký kết.
Điểm cuối cùng là điểm 6 trong bài phản biện của nhà văn PTAN, với tư cách là người trực tiếp chiến đầu chống cuộc xâm lăng cướp nước của csBV, ông đã chủ động trưng ra những bằng chứng cụ thể về bản chất và tinh thần chiến đấu anh dũng để bảo vệ miền nam Việt Nam của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà (QLVNCH).
Tiêu đề của điểm thứ 6 trong bài phản biệt là The Vietnam War quá bất công đối với QLVNCH, một quân đội đã bị bức tử, không còn tiếng nói.
Với bản chất hiền lương, nhà văn họ Phạm đã tỏ ra hết sức kiềm chế lòng tự ái tự nhiên để dùng từ “bất công” khi nói tới thái độ khinh khi, miệt thị của những người chủ trương thực hiện bộ phim từng gây ra rất nhiều tranh cãi, kể cả bất bình đến phẫn nộ này.
III. Từ Biến Cố Mậu Thân 1968 Đến Mùa Hè Đỏ Lửa 1972
Mở đầu điểm thứ 6, tác giả đã đau đớn nêu lên con số thương vong giữa quân đội Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa, trong cuộc chiến đẫm máu tính tới tháng Tư năm 1975. Ông cho biết: trong khi Mỹ có 58.220 quân nhân chết tại Việt Nam, thì QLVNCH có đến trên 320.000 binh sĩ tử trận và khoảng hơn 1.200.000 bị thương! Đề cập vụ vi phạm trắng trợn lệnh hưu chiến trong những ngày Tết cổ truyền của Dân Tộc, ông nhắc lại: trong Tết Mậu Thân 1968, csBV đã tung nhiều sư đoàn đánh vào nhiều thành phố Nam Việt Nam, QLVNCH đã anh dũng chiến đấu và đập tan ý đồ của địch, gây tổn thất rất nặng nề cho csBV. Căn cứ vào điều gọi là “cuộc Tổng Nổi Dậy” của cộng sản nhắm vào nhiều tỉnh thị bao gồm Thủ Đô Sàigòn và Cố Đô Huế, chúng ta không thể quên được nội dung bốn Câu Thơ của họ Hồ năm ấy. Xin ghi lại ở đây để quý độc giả cùng đọc lại. Đọc lại để cùng suy gẫm:
“Xuân này hơn hẳn mấy Xuân qua,
Thắng trận Tin Vui khắp mọi nhà.
Nam Bắc thi đua thắng giặc Mỹ.
Tiến lên! Phần Thắng ắt về Ta!”
Nội dung, nhất là khẩu khí hàm ngụ trong 4 câu thơ trên đây không chỉ mang ý nghĩa chúc Tết thông thường mà là một Khẩu Lệnh nghiêm chỉnh phát xuất từ cửa miệng Nhân Vật Cầm Đầu Bắc Bộ Phủ đốc thúc các đơn vị Bộ Đội tinh nhuệ miền Bắc bất chấp lệnh ngưng chiến trong ba Ngày Tết cổ truyền của Dân Tộc, xâm nhập miền Nam phối hợp cùng tập thể Du Kích Quân ô hợp địa phương đồng loạt liều chết mở cuộc Tổng Nổi Dậy tranh cướp miền nam Việt Nam!
Tác giả họ Phạm nêu lên câu hỏi: “Người ta không hiểu vì lý do gì, trong những ngày đầu trong trận Mậu Thân, ở nhiều nơi, Mỹ đã không tham chiến? Và mặc dù csBV đã vi phạm thỏa ước hưu chiến trong ngày Tết nguyên đán, bất ngờ tổng tấn công vào nhiều thành phố lớn, vậy mà đã không có khả năng chiếm được bất cứ thành phố nào. Chỉ có Huế kéo dài 26 ngày, và csBV đã giết dã man hơn 6.700 người dân vô tội”. Về câu hỏi lý do nào khiến đoàn quân viễn chinh của Mỹ lại tỏ ra thờ ơ không tham chiến chống lại cuộc tổng nổi dậy của csBV, theo suy nghĩ của người viết, câu hỏi của tác giả hàm ẩn ý định động não cho mọi người cùng suy nghĩ trong khi chính ông đã biết, và biết rất rõ rằng: Với một khẩu lệnh hiển nhiên như thế vào lúc Hoa Thịnh Đốn đã nuôi ý định rút chân ra khỏi vũng lầy cuộc chiến thì phải nói trắng ra một điều hết sức đau đớn là không phải chờ tới 7 năm sau, ngay lúc ấy, ít nhất trong ý nghĩ họ muốn dành lợi thế cho đối phương dễ dàng kết thúc cuộc chiến!!!
Trọng nỗi đau ấy, ít nhất cũng giúp QLVNCH có cơ hội một mình lăn xả vào cuộc chiến trong suốt 26 ngày đêm gây nhiều tốn thất cho một bày chó đói đã nhuộm máu ngót 7000 đồng bào vô tội, trước khi tàn quân rút chạy về rừng.
Cũng trong dịp này gợi nhớ cho người viết tới chứng từ hết sức cảm động của Phó Đề Đốc Nguyễn Từ Huấn, nhân dịp dự khán cuốn phim 90 phút mang tên “Vietnam War, Untold Storries – Chiến Cuộc VN – Những Điều Chưa Nói” khiến người coi phải rơi lệ. Được biết ông Huấn vốn là một người tị nạn được người thân mang qua Mỹ thời thơ ấu. Ông vốn là nạn nhân may mắn sống sót trong vụ thảm sát tập thể do tên cán bịnh cs Bảy Lốp gây ra cho cha mẹ và bốn anh chị em lúc ông còn là một đứa trẻ. Là một quân nhân, một sĩ quan cấp Tướng gốc Việt trong Hải Quân Hoa Kỳ, khi được hỏi về quá khứ đau thương trong gia đình, dù ông cố gắng kiềm giữ cho dòng lệ không trào ra nhưng qua gương mặt thất thần, qua giọng nói nghẹn ngào, qua cử động của thân xác, khán thính giả cảm thấu được đến tận cùng nỗi đau đớn, uất nghẹn đang trào dậy trong tâm tư ông.


Nói tới tên sát nhân Bảy Lốp khiến mọi người liên tưởng tới trường hợp tướng Nguyễn Ngọc Loan sau khi nghe thuộc cấp cho biết chính y đã can dự nhiều vào việc thảm sát đám đông đàn bà, con trẻ, khiến ông nổi giận nổ súng xử tử y ngay trên hè phố Sài Gòn giữa lúc cuộc tổng nổi dậy “non” của csBV chưa kết thúc. Khi tấm hình ông tướng xử tội Bảy Lốp xuất hiện, dư luận Hoa Kỳ lên tiếng báng bổ.*
Sánh với bộ phim Cuộc Chiến 10 Ngàn Ngày của Mỹ nhiều năm trước, PTAN cho rằng, phim The Vietnam War khá hơn đôi chút vì có đề cập thoáng qua tội ác này của csBV. Tuy nhiên lại nghe theo lời nói láo của một cựu chiến binh cộng sản để hạ thấp con số 6.700 nạn nhân vô tội bị giiết xuống còn 2.800 người.
Vẫn theo tác giả bài phản biện, “Mùa Hè 1972, csBV đưa một lực lượng quân sự hùng hậu, với xe tăng, đại pháo tối tân của Nga sô cung cấp, từ miền Bắc và Lào xâm nhập Nam Việt Nam, dùng nhiều sư đoàn thiện chiến, đánh vào Quảng Trị, Kontum và An Lộc. Lúc này các đơn vị chiến đấu Mỹ đã rút khỏi Nam Việt Nam, chỉ có QLVNCH đã chống trả mãnh liệt, tạo những chiến thắng lẫy lừng, giữ vững được các tỉnh lỵ này và gây tổn thất rất lớn cho csBV. Thời điểm này, Hoa Kỳ cũng đã cắt giảm khá nhiều viện trợ cho Nam Việt Nam. (Thêm một điều cần nói: QLVNCH luôn luôn được Mỹ viện trợ vũ khí, chiến cụ kém hiệu năng rất nhiều so với vũ khí, chiến cụ của csBV được phe cs trang bị). Một câu hỏi được đặt ra, trong Mùa Hè 1972 này, QLVNCH đã chiến thắng lớn tại Kontum, An Lộc và cả Quảng Trị, nhưng trong The Vietnam War không hề được nhắc tới, thay vào đó lại là hình ảnh của một lực lượng thuộc Sư Đoàn 3 BB phải lui binh khỏi Quảng Trị? Một cuộc chiến như thế, với những thành tích và sự hy sinh như thế, nhưng trong The Vietnam War, cả một quân đội miền Nam ấy gần như cái bóng mờ nhạt, nếu có đề cập, cũng chỉ là một vài hình ảnh tiêu cực”.
Nam California, Thứ Hai, ngày 9-3-2026
Trần Phong Vũ
* Đây là chứng từ của nhà văn và cũng là người lính VNCH PTAN liên quan tới trường hợp tướng Nguyễn Ngọc Loan được minh oan và một số chứng từ khác trong phản biện của tác giả chưa được đưa vào tiểu luận này;
Trường hợp Tướng Nguyễn Ngọc Loan xử tử tên VC Bảy Lốp sau khi tên này đã tàn sát rất dã man cả một gia đình từ bà già cho đến con nít. Và khi ấy tên VC này không hề mang quân phục hay bất cứ giấy tờ gì, thì không thể gọi hắn ta là tù binh để phải hành xử theo luật tù binh chiến tranh được. Hắn ta được xử như một tên khủng bố nguy hiểm, ác độc. Tướng Loan đã được một toà án Hoa Kỳ miễn truy tố, với lý do này.
Phóng viên Eddie Adams, người chụp bức hình xử bắn được giải Pulitzer ấy, đã tìm đến gia đình Tướng Loan xin lỗi, và khi được tin Tướng Loan mất, Eddie đã đích thân đến dự đám tang, khóc nức nở khi đọc bài điếu văn, trong đó có đoạn: “Ông là một vị anh hùng. Cả nước Mỹ nên khóc thương ông mới phải, tôi không muốn nhìn thấy ông ra đi như thế này, người ta không hiểu gì về ông ấy”. (The guy was a hero, America should be crying. I hate to see him go this way – Without people knowing anything about him). Trên vòng hoa phúng điếu của Eddie Adams, có đính một danh thiếp ghi rõ dòng thủ bút: “General! I’m so…sorry. Tears in my eyes”. (Thưa Thiếu tướng, tôi rất ân hận. Lệ đã tràn đầy mắt tôi). Bản điếu văn của ông Eddie Adams sau đó được tuần báo Time đăng tải vào ngày 27 tháng 7 năm 1998.
Bây giờ, The Vienam War lại đóng thêm những chiếc đinh oan nghiệt trên quan tài của của một người đã chết, đã từng bị sỉ nhục và khốn đốn vì tấm ảnh mang một nửa sự thực, chỉ vì ông là người của Nam Việt Nam!
Trong khi ấy, suốt cuốn phim 10 tập, dài đến 18 tiếng đồng hồ, người ta không tìm thấy hình ảnh của csBV pháo kích vào trường tiểu học Cai Lậy ngày 9.3.74, làm chết 32 và gây thương tích cho 55 em học sinh. Người ta cũng không hề thấy cảnh trên 2.000 đồng bào, rời bỏ làng mạc bị cộng sản chiếm, gồng gánh chạy về phía tự do, bị cộng sản pháo kích tàn sát, nằm chết la liệt trên đoạn đường dài 9 km (QL 1 thuộc tỉnh Quảng Trị) được báo chí đặt tên là “Đại Lộ Kinh Hoàng”. Một hình ảnh rất đặc biệt mà đến nay nhiều báo chí tại Hoa Kỳ vẫn còn nhắc đến, một bé gái 4 tháng tuổi ôm bú vú người mẹ chết từ mấy ngày trước, đã được một binh sĩ TQLC/ VNCH cứu, mang về giao cho một viện mồ côi. Sau đó, cháu bé được một trung sĩ Mỹ nhận làm con nuôi, đưa sang Mỹ vào cuối năm 1972, và sau này trở thành một sĩ quan cao cấp trong Quân đội Hoa kỳ: Đại Tá Kimberly M. Mitchell! Người Mỹ đã ca ngợi cô đại tá Hải Quân gốc Việt này, nhưng trong The Vietnam War không hề nhắc tới Đại Lộ Kinh Hoàng!
![]()











































