Trần Phong Vũ
1. Vài chi tiết cần biết về Bản Tường Trình (BTT) của Phái Bộ Liên Hiệp Quốc & bản dịch
Trong những lời đầu, dịch giả Nguyễn Văn Thực cho hay: về tính duy nhất của hai bản nguyên văn Anh Ngữ do Liên Hiệp Quốc (LHQ) và Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ lưu giữ. Cả hai bản đều có tên là “United Nations Fact-Finding Mission to South Viet-Nam-1963. Bản Việt ngữ: “Bản Tường Trình của Phái Bộ Liên Hiệp Quốc Đi Tìm Sự Thật tại Nam Việt Nam – 1963″.
Trong BTT của LHQ không hiểu lý do tại sao lại thiếu một nửa trang lá thư trả lời của TT Ngô Đình Diệm gửi Tổng Thư Ký LHQ, ông U Thant, (Theo dịch giả, trọn lá thư này do ký giả Ngy Thanh chụp được trong tập “Public Papers of the Secretaries-General of the United Nations volum VI, U Thant, 1961–1964”.

Bản do Quốc Hội Mỹ lưu giữ có trọn thư của TT Diệm gửi ông U Thant nhưng lại không có Thư của Thượng Nghị Sĩ (TNS) Thomas Dodd thuộc UB Tư Pháp Thượng Viện Hoa Kỳ (TV/HK) gửi đồng viện ông James O. Eastland, Chủ Tịch UB Nội An TV. Cũng nhờ ký giả Ngy Thanh, lá thư này cũng đã được tìm thấy trong tập “Public Papers of the…” kể trên.
Trọn vẹn nội dung phần chính BTT của Phái Bộ LHQ hoàn toàn giống nhau.
Mở đầu sử liệu song ngữ tiêu đề “Về Một Sử Liệu Bị Bỏ Quên”, chúng tôi viết:
“… Toàn văn BTT của Phái Bộ LHQ đi tìm Sự Thật tại Nam VN năm 1963” do dịch giả Nguyễn Văn Thực hiện định cư tại Na Uy chuyển ngữ kèm theo bản gốc tiếng Anh cùng với ba văn kiện liện hệ sau đây:
- Thư TNS Thomas Dodd thuộc UB Tư Pháp TV/HK gửi đồng viện là TNS Chủ Tịch UB An Ninh TV/HK James O Eastland.
- Thư Ông Uthant, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc (TTK LHQ) gửi ông Ngô Đình Diệm, Tổng Thống VHCN.
- Thư TT Ngô Đình Diệm trả lời ông U Thant.
Ngoài ra là phần Phụ Lục gồm một số tài liệu nguyên văn Anh Ngữ do dịch giả bỏ công tìm kiếm đưa vào cuối bản dịch. Chính những tài liệu quý này giúp ông chú giải một số chi tiết quan trọng trong khi chuyển ngữ nội dung phần chính.
Nhấn mạnh về tính cách “duy nhất” của sử liệu song ngữ Anh/Việt 720 trang, khổ lớn, đóng bìa cứng, in tại Đài Loan, xuất bản năm 2021, chúng tôi viết:
“Cần nhấn mạnh: đây là lần đầu tiên toàn văn BTT được công bố, vì cho đến nay (2021) chúng tôi chưa hề nghe/biết trọn vẹn bản gốc hay bản dịch Sử Liệu đã được cá nhân hay tập thể nào xuất bản. Hiện chúng tôi đang có trong tay một tập sách mỏng chỉ vỏn vẹn 110 trang ruột với tựa đề “Phúc Trình A/5630” kèm theo hàng chữ :”Phúc Trình của Phái Đoàn Điều Tra Liên Hiệp Quốc về đàn áp Phật Giáo tại Việt Nam 1963″ với danh tính người thực hiện là Nguyễn Minh Tiến. Sách ghi năm 2018 do NXB Liên Phật Hội (United Buddhist Publisher) ấn hành, đăng ký tại Quốc Hội Hoa Kỳ mang số ISBN-13: 978-1986803953 ISBN-10:1986803953 copyright by UB Publisher (United Buddhist Publisher – NXB Liên Phật Hội). Chúng tôi cố tìm kiếm nhưng chỉ thấy 2 địa chỉ ảo trên mạng: wwwlienphathoi.org và www.rongmotamhon.net mà không có địa chỉ trụ sở cụ thể ở đâu giúp liên lạc qua bưu điện, kể cả điện thoại để gọi trực tiếp!
Tập sách mỏng 110 trang chữ lớn của tác giả Nguyễn Minh Tiến chỉ dịch toát yếu có chọn lựa của người dịch từ bản Phúc Trình gốc Anh ngữ 93 trang lớn trên khổ giấy 8 rưỡi x 11 với size chữ 7 của Phái Bộ Điều Tra LHQ kèm theo những nhận định riêng của người dịch. Chỉ cần đối chiếu tập sách 110 trang kể trên với nội dung chính hai ngôn ngữ Anh/Việt của BTT khổ lớn, size chữ 12 do nhà báo Nguyễn Văn Liêm, dịch giả Nguyễn Văn Thực và chúng tôi đại diện một nhóm thân hữu ấn hành năm 2021, ta sẽ thấy sự khác biệt lớn như thế nào. Cả hai ngôn ngữ Anh/Việt, tác phẩm dày 720 trang (trừ những trang trắng và những trang không liên hệ tới nội dung chính, bao gồm lời người dịch, lời đầu của nhóm đại diện, kể cả những trang phụ lục của dịch giả là 34 trang) còn lại 686 chia ra: nội dung phần dịch thuật 317 còn lại phần gốc Anh ngữ 369 trang.
2. Thượng Nghị Sĩ Thomas Dodd là ai?

Thượng nghị sĩ Thomas J. Dodd sinh năm 1907, qua đời năm 1971. Ông thuộc đảng Dân Chủ và từng là dân biểu hai nhiệm khóa tại Hạ Viện. Sau đó, trở thành Thượng Nghị Sĩ thuộc Ủy Ban Tư Pháp TVHK. Ông là một chính khách Mỹ rất nổi tiếng về khả năng và đức độ. Khác với nhiều đồng viện đương thời, ông ủng hộ triệt để chủ trương Hoa Kỳ tham chiến tích cực hơn ở Việt Nam để ngăn chặn sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản tại Đông Nam Á Châu và giúp đỡ nhân dân Việt Nam Cộng Hoà.
Nội dung lá thư của ông Dodd nói lên nhiều điều, qui chiếu vào hai điểm sau đây:
Thứ nhất: là một chính khách nặng lòng đối với Hiệp Chúng Quốc, sự sụp đổ của nền Đệ Nhất Cộng Hoà Việt Nam (CHVN) giúp ông nhận ra những khuất tất có dự mưu của hệ thống truyền thông Mỹ quốc cùng với sự lệ thuộc quá nhiều của chính quyền Hoa Thịnh Đốn vào những nguồn tin báo chí bất lương thời Tổng Thống John F. Kennedy. Ông viết.
“Phái bộ, như BTT cho thấy, đã có thể phỏng vấn một số lãnh tụ Phật giáo và lãnh tụ thanh niên mà Báo chí tường trình là đã bị giết trước đó. Cũng không thể tìm ra bằng cớ chứng minh cho những bài tường trình đã được đăng trên Báo chí rằng các nhà sư đã bị quăng xuống đất từ những tầng trên, trong cuộc bố ráp Chùa Xá Lợi.
Điều tất cả các bài tường trình đạt được, theo ý kiến của tôi, là một lần nữa Dân Mỹ bị thông tin sai lạc một cách trầm trọng bởi một số Báo Chí về tình hình của một đất nước xa lạ mà rất liên quan đến họ. Chúng ta được nói cho biết rằng Chính phủ Ông Diệm đã có tội trong việc đàn áp tôn giáo một cách tàn bạo đến nỗi đã làm cho các thầy tăng ngây thơ vô tội buộc phải tự sát để phản đối. Bây giờ hoá ra rằng chuyện đàn áp đó hoặc không có hoặc đã bị thổi phồng rất nhiều, và rằng sự dấy động chủ yếu là sự dấy dộng chính trị, – The mission, as its report pointed out, was able to interview a number of Buddhist leaders and youth leaders who has been reported killed. It could find no evidence to substantiate published reports in the press that Buddhist monks had been thrown from upper stories during the raid on the Xa Loi Pagoda.
What all this adds up to, in my opinion, is that the Americain people have once again been grivously misinformed by some of their newspapers on a foreign situation that vitally concern them. We were told that the Diem government was guity of such brutal religeouss persecution that innocent Buddhist monks has been driven to commit suicide in protest, Now it turns out that the persecution was either nonexistant or vastly exaggerated, and that the agitation was essentially political.” (Cuối trang 19 và đầu trang 20 trong BTT song ngữ Anh/Việt của Phái Bộ LHQ qua nam Việt Nam tìm hiểu Sự Thật 1963. Với bản gốc Anh Ngữ, bạn đọc có thể coi trang 377/378).
TNS Thonas Dodd hiểu rằng trong sứ vụ điều tra để tìm hiểu Sự Thật về biến cố Phật Giáo 1963, Phái Bộ LHQ không dây vào khía cạnh chính trị. Để lý giải suy nghĩ riêng của mình, ông Dodd đã viện vào lời sư Thích Trí Quang, mà ông coi như lãnh tụ số 1 của Phật Giáo, đang trốn trong Tòa Đại Sứ Mỹ và đã trả lời cuộc phỏng vấn của bà Marguerite Higgins được ghi lại trong “Our Vietnam Nightmare”. Câu trả lời như sau:
“Chúng tôi không thể đạt được một thỏa thuận với miền Bắc, cho tới khi chúng tôi loại được Diệm và Nhu – We canot get an arrangement with the North until we get rid of Diem and Nhu“.(Bản gốc tiếng Anh ở đầu trang 378 và bản chuyển dịch qua Việt ngữ ở giữa trang 20)
3. TNS Thomas J. Dodd nghĩ gì về truyền thông Mỹ?
Khác xa với các đồng viện trong đảng Dân Chủ khác, ông Dodd thường không mấy tin tưởng vào sự trung thực của báo chí, nói chung giới truyền thông dòng chính của Hoa Kỳ.Để chứng minh niềm tin của mình, TNS Dodd nêu lên một số trường hợp cụ thể trong quá khứ và cả vào thời điểm bấy giờ cho thấy tính chất bất lương của hệ thống báo chí Mỹ. Trước hết, theo ông trong Đệ Nhị Thế Chiến, nhiều tờ báo lớn của Mỹ đã tung tin:“Mihailovich là một người hợp tác với Quân đồng minh và Tito là một nhà ái quốc vĩ đại theo chủ nghĩa Quốc gia. Kết cục Tướng Mihailovich là một người phản bội và sự thiết lập chủ nghĩa cộng sản ở Nam Tư – Mihailovich was a collaborator and Tito was a great national leader. The result was the betrayal of General Mihailovich and the installation of a Communist regime in Yugoslavia.”
Sau khi thế chiến thứ hai kết thúc, một số báo chí lại cho rằng: “… Tưởng Giới Thạch là một tên lừa đảo và những người CS Trung Quốc là những nhà cải cách ruộng đất; và kết quả là sự nhìn gà hoá cuốc này đã dẫn đến chuyện thiết lập chế độ CS ở Trung Quốc – …. Chiang was a crook and the Chinese Communists were agrarian reformers; and the result was a confusion of policy that led to the installation of a Communist regime in China.”
Chưa hết, vẫn theo ông Dodd:
“…mới đây thôi, có những tờ báo nói cho dân Mỹ biết rằng: Castro không phải là một tên CS mà là một kết hợp giữa Robin Hood và Thomas Jefferson; và kết quả là một chế độ CS ra đời ở Cuba!”- At a later date there were papers which told the American people that Castro was not a Communist but a cross between Robin Hood and Thomas Jefferson; and the result was a Communist regime in Cuba!”
Trở về với hệ quả tệ hại trước mắt của biến cố 01-11-1963, thư của TNS Thomas J. Dodd gửi TNS James O. Eastland viết với giọng mỉa mai nhưng qua đó cho thấy những điều ông tiên đoán đã trở thành sự thật 12 năm sau:
“Bây giờ chúng ta lại trở thành nạn nhân của một trò xỏ lá khác, và rồi hậu quả của chuyện xỏ lá này là Chính phủ của Tổng thống Ngô Đình Diệm đã bị tiêu diệt, điều này dẫn tới tình trạng hỗn loạn, và tình trạng hỗn loạn đã tạo ra một tình thế là khó mà chống lại chuyện CS sẽ chiếm quyền – Now we have been the victim of still another hoax, in consequence of which the government of Ngo Dinh Diem has been destroyed and achaotic situation has been created that will make a Communist takeover more difficult to resist”. (Trong phần Việt ngữ, cả bốn chứng từ này đều trích ở trang 20, trong khi bản gốc Anh ngữ có thể tìm đọc ở trang 378).
4. TNS Thomas Dodd nói gì về nhà sư Thích Trí Quang?

Từ cách nhìn tiêu cực về báo chí và nói chung, truyền thông Hoa Kỳ, trước hết, TNS Dodd quả quyết là nó đã tạo ảnh hưởng quá tệ cho vấn đề an ninh nội địa Mỹ. Do đó ông đề nghị TNS Eastland với tư cách Chủ Tịch UB An Ninh Thượng Viện, in và phân phối BTT cho mỗi TNS với hy vọng là các vị này sẽ kiếm giờ để đọc và suy nghĩ một chút về những hàm ý trong đó. Ông cũng tin rằng: Nó có thể giúp ích nếu các thành viên Báo chí tự vấn về chuyện những tờ báo quan trọng Mỹ đã có thể làm cho chúng ta lầm đường lạc lối đến như thế trong những tình huống kể trên.
Thứ hai: Ngoài cái nhìn về khía cạnh tiêu cực của hệ thống truyền thông, báo chí thiên tả Hoa Kỳ, nội dung lá thư còn cho thấy TNS Dodd đánh giá rất cao tính xác thực của Bản Tường Trình do Phái Bộ điều tra Liên Hiệp Quốcthực hiện.
Vì lý do BTT kết thúc khi chế độ Đệ Nhất CHVN vừa cáo chung khiến LHQ khép lại không đưa ra Đại Hội Đồng và Phái Bộ điều tra cũng không có phán quyết chính thức, nhưng TNS Dodd vẫn tin rằng: bất cứ người nào có cái nhìn khách quan cũng sẽ phải kết luận, sau khi đã đọc nó, rằng: những báo cáo về sự bức hại lớn lao gây cho Phật Giáo, nhẹ nhất, bị thổi phồng quá nhiều, và nặng nhất, là một sự dối trá bần tiện nhằm mục đích tuyên truyền.
Đề cập chủ trương của Phái bộ không điều tra các động cơ chính trị nằm đằng sau những kẻ dẫn dắt biến cố 01-11-63, nhưng nếu ai hỏi về vấn đề này có thể tìm thấy qua câu trả lởi TNS Dodd của bà Marguerite Higgins khi Sư Thích Trí Quang từng nói với bà như sau: “Chúng tôi không thể đạt được một sự thỏa thuận với miền Bắc cho tới khi chúng tôi loại bỏ được Diệm và Nhu – We cannot get an arreangement with the North until we we get rid od Diem and Nhu“! (Nguyên văn tiếng Anh ở trang 378 BTT của Phái Bộ LHQ).

Câu thố lộ với bà Higgins của ông Thích Trí Quang trên đây hẳn đã đủ cho công luận nhìn ra mối liên hệ giữa cao trào đấu tranh Phật Giáo ở nam Việt Nam năm 1963 với HàNội như thế nào.
Nói về nội dung cuộc phỏng vấn của hãng Thông Tấn NCWC ngày 20-11-1963 dành cho Đại sứ Costa Rica, Ô. Fernando Volio Jimenez, TNS Dodd nhắc lại nguyên văn một lời tuyên bố của ông Volio sau đây:
“Cá nhân tôi, tôi cảm thấy rằng chẳng có một chính sách xử tệ, đàn áp, hoặc bức hại nào đối với các Phật tử vì lý do tôn giáo. Những chứng từ như thế thì thường là những lời đồn đãi, và được diễn tả bằng những lời lẽ mơ hồ hay chung chung….- It is my personal feeling that there was no policy of discrimination, oppression, or persecution against the Buddhist on the basis of religion. Testimonies to this effect was usually hearsay, and was expressed in vague or general terms….” TNS Dodd kể lại trong thư gửi TNS Chủ tịch UB Nội An TNV sau cuộc gặp gỡ trực tiếp Đại sứ Fernando Volio Jimenez. Theo đó, Đại sứ Volio nói với ông rằng:
…sau 2 tuần điều tra cực kỳ kỹ lưỡng ở Việt Nam ông đã đi đến kết luận là những lời kết án đã được hình thành trong Đại Hội Đồng trước đó nhằm chống lại chế độ ôngDiệm không còn chấp nhận được nữa; ông cảm thấy những bằng cớ hiển nhiên Phái bộ thu lượm được không còn chỉ ra được rằng có chuyện xử tệ tôn giáo hay có sự xâm phạm quyền tự do tôn giáo nào nữa. – …. after 2 weeks of intensive investigation in Viet-Nam, he had arrived at the conclusion that the charges made in the General Assembly against the Diem regime had not been sustained; he felt that the evidence accumulated did not indicate that there was religious discrimination or any encroachment on the freedom of religion”.**
5. Nghĩ gì, thấy gì qua BTT/LHQ & chứng từ của TNS Dodd?
a/ Đối với công luận, nói chung, đặc biệt những bậc thức giả, những chuyên gia nghiên cứu về lịch sử chiến tranh Việt Nam: Chúng tôi tin rằng, tuyệt đại đa số quý vị đã có cơ hội đọc BTT giá trị của Phái Bộ LHQ nguyên gốc Anh ngữ. Từ đấy mọi người đều biết rõ quan điểm của TNS Dood về căn do sự sụp đổ nền Đệ Nhất CHVN, cái chết thảm khốc của anh em TT Ngô Đình Diệm, dẫn tới cuộc chiến tranh xâm lược miền nam Việt Nam của cd Bắc Việt (CSBV) 12 năm sau, như lời cảnh báo mang giá trị tiên tri của ông Dood.
b/ Đối với Ken Burns và nhóm ông ta đã đổ công sức, mưu toan thực hiện Bộ phim đồ sộ 15 năm trước: Để làm chuyện này, Ken Burns sẽ phải lục lọi sách báo, sử liệu liên quan tới lịch sử cuộc trường chinh đẫm máu tại Việt Nam. Như thế, quyết nhiên nhóm ông ta cũng phải thấy rõ hơn ai khác về nội dung BTT, về lá thư của TNS Thomas Dodd. Từ đấy, những Sự Thật hiển nhiên mà ông và đồng bọn cố tình che giấu trong bộ phim đã lần lượt được phơi bày dưới ánh sáng công luận.
c/ Đối với người viết những bài nhận định này: Nếu gộp chung cả hai bài đầu thì đến nay, tôi đã có 8 bài được công bố trên nhiều phương tiện tuyền thông trong cộng đồng tị nạn Việt Nam, trong đó có mạng Vận Hội Mới. Hai bài thứ 9 và 10 đã xong, đang hoàn chỉnh và sẽ gửi ra nội cuối tuần này. Cộng chung lại thành 10 bài. (Bài thứ nhất lược thuật nội dung cuốn phim “Vietnam War – Untold Storries” do ông Phạm Văn Nam sản xuất và đạo diễn là ông Nguyễn Đức. Buổi trình chiếu lần đầu tại Lavender Hall, thuộc thành phố Westminster, Nam California Hoa Kỳ, Chúa Nhật 22-12-2025. Vì mục đích của cuốn phim đầu hàm ngụ ý tưởng đưa ra những chứng từ phản biện nội dung bộ phim lớn do nhóm đạo diễn Ken Burns thực hiện, nên trong bài thứ hai, người viết có dụng tâm nêu lên những lý do dể không thể ngừng lại ở một vài, ba cuốn phi lẻ tẻ mà cần có một bộ phim nhiều tập mới mong đạt được phần nào tham vọng chính đáng ấy.
Trong ngày tôi, người viết sẽ tập chú vào nội dụng bài “Vietnam War – Đôi điều Cần Phải Nói” của nhà văn Phạm Tín An Ninh, vốn là Sĩ Quan trong QLVNCH, từng góp máu, quyết liệt chống lại kẻ thù phương Bắc qua nội dung bài viết sắc bén của ông, chúng tôi sẽ nhận định rốt ráo về thái độ bất cố liêm sỉ, thiếu lương thiện tối thiếu của hai đạo diễn Ken Burns, Lynn Novick và đồng bọn khi cậy vào tiền bạc, trắng trợn bóp méo Sự Thật trong cuộc chiến chống lại CSBV của Quân Dân miền Nam Tự Do.
Người viết thiết tha cầu xin Ơn Trên Chúc Lành cho nhóm thực hiện và những Mạnh Thường Quân đã góp phần quảng đại cho cuốn phim đầu “Cuộc Chiến Việt Nam – Những điều Chưa Nói “. Ước mong quý vị sẽ nỗ lực hơn để có được những cuốn phim tiếp theo với những chứng từ, hình ảnh chân thực, khả tín để bảo vệ và phục hồi Danh Dự cho cả triệu lương dân hai miền Nam/Bắc và các chiến sĩ Việt Nam Cộng Hoà, bao gồm hơn 50.000 người Mỹ đã tử trận trong cuộc chiến phi nghĩa do CSBV gây ra.
Trần Phong Vũ
Miền Nam California, Chúa Nhật, ngày 8-2-2026
* Cách đây khoảng 5 năm, với sự tiếp tay của ký giả Ngy Thanh (Houston, Texas), nguyên cộng tác viên nhật báo Sóng Thần, Sàigòn trước 75, nhà văn kiêm dịch giả Nguyễn Văn Thực hiện định cư ở Na Uy đã tìm được nguyên bản Anh ngữ Bản Tường Trình của Phái Bộ Liên Hiệp Quốc qua Nam Việt Nam Tìm Hiểu Sự Thật về biến cố Phật Giáo năm 1963 cùng một số tư liệu liên hệ quan trọng trong văn khố tổ chức Liên Hiệp Quốc và Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ. Ông đã chuyển sang Việt ngữ toàn bộ Bản Tường trình này và sau khi được sự yểm trợ tinh thần của Giáo Sư Trần Huy Bích, nhà văn Phạm Tín An Ninh, Đốc Sự Hành chánh Nguyễn Đắc Điều, ông gửi cho chúng tôi để bàn chuyện xuất bản.
Sau một thời gian dài suy nghĩ, trao đổi, cân nhắc, và khi được sự đồng thuận của nhiều thức giả trong, ngoài nước, ba anh em chúng tôi, dịch giả Nguyễn Văn Thực, Vi Khiêm Nguyễn Văn Liêm và chúng tôi (Trần Phong Vũ) cùng đứng tên đại diện một số bằng hữu khắp nơi quyết định ấn hành.
Kết cuộc bản layout sử liệu quan trọng song ngữ Việt/Anh 720 trang, khổ lớn, bìa cứng này đã được gửi in bên Đài Loan, chính thức xuất bản và giới thiệu tại miên nam California, Hoa Kỳ năm 2021.
**Những đoạn tô đậm hay gạch đáy do người viết muốn nhấn mạnh.
![]()











































