Trần Phong Vũ
Từ sự hiểu lầm -hay cố tình hiểu lầm- bản chất cuộc chiến do Đệ Nhất Cộng Hòa Việt Nam chủ trương cho đến sau Hiệp Định Genève trung lập Lào, nhờ “hành lang Harriman” hàng trăm ngàn bộ đội và cả trăm ngàn tấn chiến cụ xâm nhập, phá nát các thôn làng phía nam vĩ tuyến 17, đều có bóng dáng những hung thần “sát thủ” này. Trong bài 2, người viết đã có dịp nói tới một quan chức mang tên Averell Harriman, nhân vật nham hiểm, mưu mô và đầy tham vọng và là chính khách đàn anh của mấy khuôn mặt khét tiếng khác vây quanh TT Kennedy. Đó là Roger John Kenneth Galbraith, Roger Hilsman, Michael Forrestal và William Trueheart.

Averell Harriman là ai? Trả lời câu hỏi này, qua những tiết lộ của hai tác già, GS Vũ Quý Kỳ và học giả Geoffrey Shaw qua những tác phẩm của họ, chúng ta được biết: Đó là con trai của một đại gia ngành hỏa xa có quyền lực và danh tiếng. Nhờ thế lực và ảnh hưởng rộng lớn của cha, Harriman con đã lừng lững bước vào chính trường và xã hội thượng lưu Hoa Kỳ khá sớm trước khi trở thành cánh tay mặt của Kennedy. Đương sự từng đảm nhiệm hết chức vụ quan trọng này đến vị trí quan trọng khác, bao gồm Bộ trưởng Thương mại Hoa Kỳ và đại sứ tại Liên Xô.
Là một chính khách lão luyện, biết đón bắt thời cơ, Harriman đã “đầu tư” 30.000 Mỹ Kim vào quỹ tranh cử của ứng viên Dân Chủ Kennedy, một số tiền được coi là khá lớn vào thời ấy. Đây có thể là một trong cái giá để cuối năm 1961, Tổng thống Kennedy đã bổ nhiệm ông ta làm trợ lý ngoại trưởng phụ trách các vấn đề Viễn Đông. Trong tác phẩm “The Lost Mandate of Heaven”, TS Geoffrey Shaw cho biết, vào dịp ấy, ông Kennedy đã mô tả Harryman là một người đàn ông đã đảm nhiệm ‘nhiều công việc quan trọng như bất kỳ người Mỹ nào trong lịch sử của chúng ta, ngoại trừ John Quincy Adams’. Vẫn theo học giả Shaw, kể từ đấy, ông ta trở thành một nhân vật ảnh hưởng nhất không chỉ với Bạch Ốc mà còn cả bộ Ngoại Giao trong chính quyền Mỹ.

Vẫn theo Dr. Shaw, là một khuôn mặt rất nhạy bén trong việc sử dụng quyền lực, Harriman đã đánh hơi thấy một cơ hội vàng trong việc đại diện cho Mỹ tại Hội nghị Genève dẫn đến việc trung lập hóa Lào vào năm 1962. Dr Shaw nhận định, ông ta coi việc giải quyết vấn đề Lào là tấm vé mở cửa cho ông len lách vào mọi hành lang quyền lực của Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ.
Theo tường thuật của GS họ Vũ, trong Đệ Nhị Thế chiến, Harriman tình cờ có được những ngày đầu làm việc với Liên Xô. Không lâu sau ông trở thành một nhân vật đáng tin cậy về các vấn đề của xứ sở này trong việc hoàn tất Hiệp định Genève 1962. Trên thực tế, sự trung lập của Lào là một thảm họa đối với Đông Nam Á, cách riêng đối với nền Cộng Hòa non trẻ của Việt Nam.
Dư luận thời ấy, nhất là giới lãnh đạo các quốc gia trong vùng –trong đó có miền nam Việt Nam- nghĩ rằng Harriman không thể không nhận ra. Nhưng khi điều này trở nên rõ ràng thì ông lại cho rằng thảm họa của hiệp định Lào không phải do những sai sót cố hữu của nó do chính ông là kiến trúc sư, mà do sự “bất cẩn” của các lãnh tụ Pathet Lào và cs miền Bắc. Các thành viên khác trong Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, bao gồm cả Ngoại trưởng Dean Rusk, hoàn toàn không đồng ý với Harriman trong cách đối phó quá mềm yếu với Liên Xô quanh hội nghị Genève về vấn đề Lào. Chính thái độ lập lờ của Harriman đã cho phép không có biện pháp giám sát chống lại sự xâm nhập của quân đội và vật liệu chiến tranh của Bắc Việt Nam qua Hạ Lào, và dọc theo cái gọi là “đường mòn Hồ Chí Minh”. Và đấy cũng là lý do khiến một số nhà văn đặt tên cho “Đường Mòn HCM” là “Xa lộ Averell Harriman”. Đại sứ Federic Nolting tỏ ra tán thành cách gọi tên này.
Dựa vào những chứng liệu khả tín trong tầm tay, GS Vũ ghi nhận, chính đại sứ Nolting là người đối đầu với Harriman trong cuộc đàm phán Genève năm 1962 và xác quyết rằng nếu không có sự giám sát đối với những vi phạm của Hà Nội, an ninh của miền Nam Việt Nam sẽ gặp rủi ro lớn. Riêng Harriman hoàn toàn không quan tâm khả năng này. Qua nội dung cuộc phỏng vấn của O’Brien, Học giả Georfrey Shaw cho hay, trả lời người phỏng vấn, ông Nolting nói: Tổng thống Diệm và chính phủ của ông ấy tỏ ra rất phân vân về việc liệu họ có nên ký thỏa thuận hay không. Đại sứ Nolting cũng đồng ý với quan điểm đó vì thấy rằng nếu không có các biện pháp giám sát, hiệp ước sẽ bị vi phạm. Trên thực tế, đường mòn Hồ Chí Minh đã mở ra hoàn toàn cho Bắc Việt Nam xâm nhập vào miền Nam Việt Nam. Và điều này gây ra rất nhiều khó khăn để duy trì, thực hiện, chính sách của chính quyền Kennedy, đối với miền Nam Việt Nam – đó là ủng hộ nền độc lập của họ. Vì vậy, vào thời điểm đó, những khó khăn đã bắt đầu phát triển giữa sứ mệnh của người đại diện Hoa Kỳ và Averell Harriman.

Bên cạnh Averell Harriman, có lẽ người có ảnh hưởng lớn thứ hai trong việc hướng dẫn chính sách của Mỹ về miền Nam Việt Nam của Kennedy là John Kenneth Galbraith, người cũng tỏ ra không ưa Tổng Thống Diệm khi ấy.
Xuất thân trong một gia đình nông dân ở Canada, Galbraith sinh năm 1908 và học trung học ở Canada trước khi hoàn thành chương trình đại học về kinh tế nông nghiệp tại Trường Cao đẳng Nông nghiệp Ontario. Sau đó lấy bằng tiến sĩ tại Đại học Berkeley, California trong cùng lãnh vực năm 1934. Galbraith đã dành nhiều năm giảng dạy kinh tế tại Harvard, nơi ông viết cuốn “The Affluent Society” một cuốn sách được coi là có ảnh hưởng tới sự nghiệp chính trị của ông sau này. Ông là người có công trong việc thành lập Tổ chức Hành động Dân chủ của Mỹ vào năm 1947 và tham gia chính trị với tư cách là một học giả có ảnh hưởng. Ngay từ năm 1957, Galbraith đã tỏ ra tán thành việc Kennedy là ứng cử viên TT tiềm năng của đảng Dân Chủ.
Điều này, cuối cùng đã đưa ông đến vị trí đại sứ tại Ấn Độ trong chính quyền Kennedy. Năm 1961, Galbraith có chuyến thăm miền Nam Việt Nam và sử dụng nơi này như một diễn đàn để nói lên quan điểm của mình về cuộc xung đột ở Việt Nam. Trong khi đại sứ Nolting coi Tổng thống Diệm là “người tốt nhất cho Việt Nam” dù ông không phủ nhận những thiếu sót của ông Diệm thì Galbraith có quan điểm ngược lại. Ông ta hoàn toàn bất đồng với Nolting và cho rằng tuyên bố của Nolting “không có sự thay thế ông Diệm là vô nghĩa”.
Từ đó trở đi, Galbraith dứt khoát đi theo đường lối của Harriman là phải loại bỏ Tổng thống Diệm dù với bất cứ giá nào!
Vì đã thấy rõ lập trường ủng hộ TT Diệm và chính quyền hiện hữu do ông Diệm lãnh đạo nên đề xuất đầu tiên của Galbraith là phải loại bỏ Nolting trong vai trò đại sứ tại Sàigòn. Với ông ta, người thay thế Nolting phải là một một nhân vật phù hợp với quan điểm, lập trường của Harriman mà ông coi là chính khách hàng đầu trong đảng Dân Chủ khi ấy. Galbraith không giấu giếm, công khai tuyên bố là cần tìm một người có thể nắm toàn quyền tòa Đại Sứ ở Sàigòn, quân đội Mỹ đang tham chiến ở Việt Nam, và cả ông Diệm (!). Theo ông, một người như thế sẽ kiên định chủ trương, đường lối một lần dứt khoát và mãi mãi về cải cách chính phủ.
Nhân vật thứ ba trong liên minh sắm vai hung thần đối với chính quyền của Tổng Thống Diệm là Roger Hilsman thời gian đương sự là phó trợ lý thư ký phụ trách các vấn đề viễn đông của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ.

Thông qua Harriman, Hilsman cũng trở nên thân thiết với Michael Forrestal, một bảo vệ của Harriman, người đã gia nhập nhóm thân cận Bạch Ốc vào đầu năm 1962 và trở thành một trong những phụ tá gần gũi của Kennedy.
Trên thực tế, Roger Hilsman và Michael Forrestal tình cờ là hai hung thần trong số những tác nhân chính hoạt động tích cực và là công cụ dẫn đến “sự kiện đột ngột mang đầy kịch tính” sau này cho Việt Nam Cộng Hoà (VNCH).
Với những nguồn tin chính xác, người ta được biết, ngay từ năm 1961, tại một cuộc họp vào ngày 8 tháng 3, Giám đốc nghiên cứu và tình báo của Bộ Ngoại Giao, Roger Hilsman, đã đưa ra quan điểm rằng một cuộc đảo chính lật đổ tổng thống Diệm phù hợp với đường lối, chính sách của Mỹ ở Việt Nam. Cũng tại cuộc họp trên, những người chủ trương việc lật đổ ông Diệm do Roger Hilsman dẫn đầu đã không thể thuyết phục được đa số những người khác chấp nhận quan điểm của y.
Những người trong cuộc ở Washington coi Hilsman là người thô lỗ, kiêu ngạo, cực kỳ tự tin vào phán đoán của chính mình. Quan trọng nhất, Hilsman cho rằng trong thời kỳ chiến tranh, mọi người nên tiến hành đồng thời các hoạt động quân sự và cải cách chính trị, và ông ta tin chắc chắn rằng các nhà lãnh đạo Rostow và MAAG đã sai khi cho rằng quân nổi dậy thiếu sự ủng hộ của dân chúng.
Vì tin hoặc cố tình tin như thế nên Hilsman và phe nhóm của y mới dễ dàng hiểu lầm bản chất cuộc chiến nổ ra ở miền nam Việt Nam ngay sau sự ra đời của cái gọi là Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam (MTDTGPMNVN) năm 1960 mà đại đa số nông dân miền nam đều hiểu là một thứ hình nộm do Hà Nội dựng lên. Bản tính kiêu căng, quá tự tin đến võ đoán không chỉ thấy ở cá nhân Hilsman mà cũng là đặc tính của nhân vật được y tín nhiệm, tôn trọng như bậc thầy là Averell Harriman, người cầm đầu cả nhóm.
Nói tới khuôn mặt chính trị nhà nghề, biết chụp bắt thời cơ như Harriman, học giả Geoffrey Shaw đã có lần nhắc tới thái độ hãnh tiến, xấc xược của ông ta đối với Tổng thống Diệm. Điều này cho thấy sau khi đã mua được cảm tình của TT Kennedy, Harriman không những qua mặt ngoại trưởng Dean Rusk, xếp trực tiếp của y mà còn xem thường cả Phó TT Johnson. Bởi lẽ lúc bấy giờ ai cũng biết ông Johnson kính trọng người cầm đầu chính quyền VNCH ra sao.
Ở cương vị Phó TT cường quốc Hoa Kỳ, không những ông đã từng ca ngợi ông Diệm là “Churchill của Việt Nam”, mà còn “sánh ông với George Washington, Andrew Jackson, Woodrow Wilson và Franklin Roosevelt”.
Vài suy nghĩ chót của người viết trước khi kết thúc bài này
Nhìn lại cung cách hành sử đầy ác ý của bọn hung thần kế cận TT Kennedy đối với TT Diệm 3 năm cuối Đệ Nhất Cộng Hoà của Việt Nam, chúng ta dễ dàng nhận ra mầm mống phản bội của Mỹ, không phải chờ tới khi bộ phim đồ sộ của đạo diễn Ken Burns và phụ tá của y, ra đời hơn nửa thế kỷ sau. Điều quan trọng là khi đã nhận ra, dù sớm hay muộn, chắc chắn, đã là người Việt Nam bắt buộc chúng ta phải động tâm.
Dĩ nhiên, khi tâm đã động và trí đã gợi nhắc, hẳn không ai có thể ngồi yên mà không có những việc làm cụ thể. Từ đấy, mọi người sẽ nhận ra giá trị của cuốn phim đầu 90 phút mang tên “Cuộc Chiến Việt Nam, Những điều Chưa Nói Tới”được trình chiếu lần đầu tại Tiểu Sài Gòn, nam California, Hoa Kỳ hôm Chúa Nhật 22-12 vừa qua. Dư luận đã có lý khi tỏ bày ý kiến: “nội dung phim có một số ưu điểm nhất định, nhưng chưa đủ. Cần có thêm những cố gắng tiếp theo”.
Trần Phong Vũ
Miền nam California, Thứ Năm 23-1-2026
![]()








































