
“Thiên Chúa ban cho con người biết nhận thức về vũ trụ, tuy thế, con người cũng không thể nào hiểu hết được công trình Ngài thực hiện trong lịch sử” (Côhelét 3,11).
Hội nghị thượng đỉnh Không Gian Quốc Tế ở Grand Palais, Paris gần trung tuần tháng 9 năm 2026, quy tụ các phi hành gia, nhà nghiên cứu và lãnh đạo các doanh nghiệp từ hơn 90 quốc gia để thảo luận về tương lai ngành công nghiệp vũ trụ, nêu bật tầm quan trọng của hợp tác quốc tế và tăng cường an ninh không gian. Vào ngày bế mạc, mùng 10 tháng 9, Tổng Thống Pháp Emmanuel Macron khẳng định: “Trong 2 năm tới, tôi muốn thấy tàu chở hàng châu Âu đầu tiên, Nyx, đến trạm không gian Quốc tế ; trong 5 năm tới, tàu đổ bộ Mặt Trăng đầu tiên của châu Âu, Argonaut, sẽ hạ cánh xuống Mặt Trăng, và trong 10 năm nữa, tàu vũ trụ có người lái đầu tiên của châu Âu sẽ cất cánh từ Kourou với các phi hành gia châu Âu, đồng hành với các phi hành gia từ các nước khác”.

Qua dẫn thuật của AFP, hôm 25 tháng 9, Ba Lan báo động về một trạm thông tin vệ tinh Starlonk bốc cháy, gây gián đoạn điều phối lưu lượng truy cập internet trên khắp Ba Lan, cũng như kết nối sang Ukraina. Sự việc được cho là do Nga phá hoại.
Tuy nhiên, hành động phá hoại vừa nói vẫn còn giới hạn trong phạm vi mặt đất “ground segment”. Thực tế thì Nga đang theo đuổi một hướng tấn công nguy hiểm hơn nhiều: “đánh vào hệ thống điều khiển vệ tinh”, một lĩnh vực được xếp vào “space cyber domain”. Nga đã nhiều lần chứng tỏ khả năng nhắm vào tầng điều khiển những vùng giao thoa giữa không gian và an ninh mạng, nơi các vệ tinh, vốn hoạt động trên quỹ đạo, phụ thuộc hoàn toàn vào các trung tâm điều khiển, mạng lưới mã hóa, và các giao thức truyền lệnh từ mặt đất.
Các chiến dịch tấn công mạng nhằm vào hệ thống vận hành vệ tinh, như vụ Viasat năm 2022, cho thấy mục tiêu không phải là phá hủy phần cứng mà là “làm tê liệt khả năng điều khiển”, khiến vệ tinh mất liên lạc, mất chức năng, hoặc dẫn tới hoạt động sai lệch. Đây là chiến thuật tấn công có hiệu quả chiến lược cao: chỉ cần xâm nhập được vào mạng lưới điều khiển của “đối phương” có thể gây nhiễu loạn thông tin, làm mù cảm biến, hoặc cắt đứt liên lạc quân sự trên diện rộng mà không cần phóng bất kỳ vũ khí vật lý nào lên quỹ đạo.
Trong bối cảnh chiến tranh hiện đại, nơi mọi hoạt động quân sự đều dựa vào vệ tinh, từ dẫn đường, liên lạc, trinh sát đến điều phối tác chiến, việc Nga tập trung vào “điểm yếu của hệ thống điều khiển” cho thấy Nga theo đuổi chiến lược rõ ràng: thay vì “chạy đua” trực tiếp trong không gian, họ chọn “đánh vào ‘bộ não’ của vệ tinh”, nơi một “khe hở nhỏ” trong mạng lưới không gian có thể tạo ra hậu quả chiến lược lớn. Đây chính là lý do các chuyên gia quốc phòng xếp những hành động này vào “space cyber domain”, một mặt trận mới của chiến tranh không gian, nơi kẻ thù không cần chạm vào vệ tinh vẫn có thể làm tê liệt cả một hệ thống trên quỹ đạo.

Nếu xét theo ngân sách đầu tư, Mỹ dẫn đầu tuyệt đối, Trung cộng đứng thứ hai, Liên Âu đứng thứ ba và Nga vào loại “đội sổ”. Tuy nhiên, trong chiến tranh không gian, Nga vẫn giữ vị trí “spoiler state” nguy hiểm nhờ các năng lực counterspace phi đối xứng, đặc biệt là tấn công vào hệ thống điều khiển vệ tinh thuộc space cyber domain.
Việc tiếp cận và kiểm soát được nguồn nước và các vị trí chiến lược tại cực Nam Mặt Trăng được xem là mục tiêu tối quan trọng trong kỷ nguyên thám hiểm không gian mới giữa các cường quốc. Do vậy, hai nước Mỹ-Trung đang nhắm vào mục tiêu này bằng phương cách khác nhau:
- Mỹ triển khai chương trình Artemis với sự hậu thuẫn của các đối tác phương Tây và các công ty tư nhân lớn nhằm chuẩn bị tiến trình khai thác băng nước ở cực Nam Mặt Trăng: NASA đang lập bản đồ, đo trữ lượng và xác định vị trí các vùng tối vĩnh cửu có băng nước. Rover VIPER – xe tự hành, sẽ thám hiểm khu vực này vào cuối thập niên 2020 để lượng giá, phân tích khả năng nguồn nước. Công nghệ In-Situ Resource Utilization (ISRU) đang được phát triển để tách nước từ regolith và chuyển hóa thành oxy, nhiên liệu. Việc khai thác thực sự chỉ có thể bắt đầu sau 2035.
- Trung cộng, một quốc gia toàn trị (totalitarian), đang đẩy mạnh các sứ mệnh Hằng Nga và hợp tác với Nga xây dựng Trạm Nghiên cứu Mặt Trăng Quốc tế, International Lunar Research Station (ILRS).
Trong bối cảnh Bắc Kinh đe dọa Đài Bắc, Nga xâm lược Ukraine; “khiêu khích” với Đan Mạch và Litva, hôm 15 tháng 9, truyền thông quốc tế loan tin, Lực lượng Không Gian Mỹ Douglas Schiess – quân chủng chuyên trách không gian, lần đầu tiên công khai xác nhận: Mỹ đã bố trí các loại vũ khí kiểm soát không gian trên quỹ đạo để bảo vệ lực lượng liên quân trước các hành động thù địch từ Nga và Tầu. Ngay lập tức Bắc Kinh và Mạc Tư Khoa đều phản đối mạnh mẽ và cảnh báo về một cuộc chạy đua vũ trang mới trong không gian. Nga, Tầu chắc chắn chưa quên: thời chiến tranh lạnh (1947-1991), Liên Bang Xô Viết sử dụng tới gần 20% GDP vào cuộc chạy đua công nghệ không gian và hệ thống phòng thủ tên lửa với khối Tây phương đã dẫn đến cảnh sụp đổ khối Xô Viết vào cuối năm 1991, khiến 15 nước chư hầu, trong vòng vài tháng đã lần lượt tách ra tuyên bố độc lập.

Ngân sách không gian của Mỹ gấp 5 lần Trung cộng, gấp 8 lần EU, gấp 30 lần Nga, nhưng xem ra “chưa” phản ánh đầy đủ sức mạnh trong chiến tranh không gian. Mỹ và Trung cộng dẫn đầu nhờ nguồn lực khổng lồ, trong khi Nga, như đã trình bầy ở trên, dù ngân sách nhỏ vẫn duy trì năng lực counterspace nguy hiểm, đặc biệt ở mảng tấn công vào hệ thống điều khiển vệ tinh thuộc space cyber domain. Đây là mặt trận nơi một quốc gia có thể gây thiệt hại chiến lược lớn mà không cần sở hữu ngân sách hay hạ tầng không gian đồ sộ.
Dưới đây là bảng so sánh ngân sách không gian năm 2026, tính bằng đơn vị “Tỷ Mỹ Kim”, dựa trên các nguồn quốc tế (ESA, NASA, CNSA, Roscosmos, Euroconsult, Space Foundation):
| Đề mục | Mỹ (NASA + DoD)~$73B | Trung cộng (CNSA)~$14B | Liên Âu (ESA + EU)~$8.5B | Nga (Roscosmos)~$2.2B |
| Tổng chi 2026 | ~$73B | ~$14B | ~$8.5B | ~$2.2B |
| Tăng trưởng | Ổn định | Tăng mạnh | Ổn định | Giảm |
| Số lần phóng | 121 | 67 | 12 | 12 |
| Hệ thống phóng | Falcon, Vulcan | Long March | Ariane, Vega | Soyuz, Angara |
| ASAT | Đầy đủ | Đầy đủ | Hạn chế | Có (Nudol) |
| Cyber-space | Rất mạnh | Mạnh | Trung bình | Mạnh (phi đối xứng) |
| Độ trưởng thành | Rất cao | Cao | Cao | Suy giảm |
| Khả năng tự chủ | Hoàn toàn | Hoàn toàn | Một phần | Giảm dần |
Nếu thành công, khai thác và nghiên cứu không gian không chỉ mang lại các lợi ích khoa học, y tế và nâng cao chất lượng đời sống, mà còn tạo ra ảnh hưởng kinh tế đáng kể thông qua phát triển công nghiệp, mở rộng thị trường toàn cầu, tăng cường hợp tác quốc tế, và nâng cao khả năng tự chủ chiến lược của các quốc gia trong lĩnh vực công nghệ không gian.
Hành trình chinh phục của nhân loại đã trải qua những bước chuyển mình vĩ đại, từ thuở bình minh rẽ sóng vượt đại dương, tìm kiếm những vùng đất mới trên các lục địa và hoang đảo xa xôi, cho đến khi khai thác nguồn tài nguyên sâu thẳm dưới đáy đại dương. . . Chưa dừng lại, con người ngước lên “ngắm nghía” bầu trời với ước vọng mở ra kỷ nguyên chinh phục không gian.

Phi hành gia Edwin Aldrin (trong hình) và Neil Armstrong (người chụp hình)
Cột mốc lịch sử được thiết lập vào năm 1969 khi phi thuyền Apollo 11 của Mỹ lần đầu tiên đưa đưa phi hành gia Neil Armstrong đặt chân lên Mặt Trăng. Đến nay, nỗi khát khao được tiếp nối bằng những bước tiến công nghệ đột phá, hướng thẳng về vùng cực Nam của Mặt Trăng – nơi các nhà khoa học vừa phát hiện ra nguồn nước đá quý giá trong những hố sâu vĩnh cửu, mở đường cho sự sống và các căn cứ dài hạn ngoài mặt đất.
Nước đá hay còn gọi là “băng nước” nơi cực Nam của Mặt Trăng sẽ được tinh lọc thành nước uống, oxy để thở và tách hydro làm nhiên liệu tên lửa, giúp giảm đáng kể chi phí phóng phi thuyền tương lai lên Sao Hỏa (?). Tương lai không gian có thể thành một thị trường thương mại sôi động, như một “bàn đạp” logistics để nhân loại tiến sâu hơn trong công nghê không gian.
Hiện tại, Mỹ vẫn đang giữ lợi thế dẫn đầu toàn diện về mặt công nghệ cốt lõi và kinh nghiệm thực tiễn, nhưng Trung cộng đang thu hẹp khoảng cách một cách đáng kinh ngạc nhờ sự nhất quán trong lộ trình tài trợ.
Lợi thế của Mỹ: Sở hữu hệ thống tên lửa sức đẩy cực mạnh- Space Launch System (SLS) của NASA và năng lực vượt trội của các công ty tư nhân như SpaceX với công nghệ tên lửa tái sử dụng. Chương trình Artemis của Mỹ đặt mục tiêu đưa phi hành gia trở lại bề mặt Mặt Trăng sớm hơn.
Sức bật của Trung cộng: Chương trình thám hiểm vũ trụ của Bắc Kinh đạt được chuỗi thành công liên tiếp từ việc lấy mẫu vùng tối Mặt Trăng cho đến chuẩn bị phóng các tàu thăm dò như Hằng Nga 7 (Chang’e 7) nhằm tìm kiếm nước đá trực tiếp ở cựa Nam. Lộ trình của họ hướng tới việc đưa phi hành gia lên Mặt Trăng vào khoảng năm 2029.
Sự cạnh tranh này đang biến Mặt Trăng thành một đấu trường chiến lược lớn về cả khoa học, kinh tế lẫn vị thế địa chính trị quốc tế.
Nhìn lại hơn nửa thế kỷ qua, từ năm 1957, nhân loại không ngừng khám phá vũ trụ, nhưng vẫn bỡ ngỡ trước những sáng tạo kỳ vỹ của Thiên Chúa. Sự thật này từng được xác định từ gần 300 năm trước Công Nguyên nơi sách Giảng Viên: “Thiên Chúa ban cho con người biết nhận thức về vũ trụ, tuy thế, con người cũng không thể nào hiểu hết được công trình Ngài thực hiện trong lịch sử” (Côhelét 3,11).
Trần nguyên Thao
Tham khảo:
- https://aerospaceamerica.aiaa.org/the-new-space-race/
- https://www.cbc.ca/news/science/space-race-us-china-moon-9.7150635
- https://www.space.com/space-exploration/satellites/us-space-force-says-it-operates-weapons-in-orbit-our-aim-is-deterrence
- https://science.nasa.gov/mission/viper/
![]()









































