_____________________________

Cũng trong chương 10 tập 2 tác phẩm “The Vietnam Upheaval”, tác giả, GS Vũ Quý Kỳ đã trích dẫn khá nhiều chứng từ của nữ ký giả danh tiếng từng đoạt giải Pulitzer, Margueritte Higgins trong cuốn “Our Vietnam Nightmare” của bà. Đặc biệt trong đó có một đoạn dài bà đề cập một số chi tiết trong “Bản Tường Trình của Phái Bộ LHQ qua nam Việt Nam Tìm Hiểu Sự Thật về biến cố Phật Giáo năm 63”*.

Nói về những vụ “tự thiêu” (mà nữ ký giả cũng như Phái Bộ LHQ thường dùng từ “tự tử” – “suicide”), bà viết: :… “Tôi phát hiện ra rằng việc khuyến dụ tự tử là một hoạt động chính thức của Tổng hội Phật giáo**… – I discover that the inducement to suicide was a formalized activity of the General Buddhist Association…”

 Higgins viết tiếp:

 “Với tôi, hiển nhiên trong nhiều trường hợp, Người phát ngôn của Phật giáo, Thích Đức Nghiệp, biết chính xác khi nào, ở đâu và vào giờ nào một “tình nguyện viên đã ”tự thiêu. Trong hầu hết các trường hợp, các vụ tự sát được lựa chọn cẩn thận để có tác động tối đa đến dư luận thế giới. – It was clear to me that the Buddhist Spokesman, Thich Duc Nghiep, knew in many cases precisely when, where and at what hour a “volunteer” was to burn himself for the cause. In most instances the suicides were carefully selected for maximum impact on world opinion.”

Tác giả “Our Vietnam Nightmare” cho hay, lần đầu tiên bà biết chi tiết chính xác về một vụ tự sát (tự thiêu) được sắp đặt trước như vậy là nhờ đọc Bản Tường Trình của Phái Bộ Liên Hiệp Quốc qua Việt Nam tìm hiểu sự thật về cáo buộc đàn áp Phật Giáo ở Sài Gòn được công bố ngày 07 tháng 12 năm 1963. Theo bà Higgins, Phái Bộ đã được chế độ ông Diệm dành nhiều thời gian để phỏng vấn các Phật tử trong bệnh viện và trại giam giữ cũng như các chùa, đã đề cập đến chủ đề của các đội cảm tử Phật giáo trong một cuộc phỏng vấn định mệnh với một nhà sư Phật giáo được mô tả trong báo cáo của Liên Hiệp Quốc là “nhân chứng số 8” trong Bản Tường Trình.

Nữ ký giả Margueritte Higgins cho hay, “nhân chứng số 8” là một Tăng sĩ trẻ mới 19 tuổi. Trả lời cuộc phỏng vấn của Phái Bộ/LHQ, đương sự khai, vào khoảng thời gian đầu tháng 10-63, ông đã nghe về những hành động tàn bạo gây ra bởi Chính phủ chống lại các Phật tử.

Ví dụ như các tăng ni Phật giáo bị đánh đập tàn nhẫn, bị trấn nước đến chết, bị mổ bụng …. Nhân chứng cho hay là ông rất buồn khi biết tin này…. Một ngày kia một sinh viên tự xưng thuộc một Hiệp hội Sinh viên đã đến gặp ông và mời tham gia phong trào Phật giáo. Ông chấp nhận…. Ngày 22 tháng 10 cậu sinh viên đó đến gặp lại nhà sư một lần nữa và xưng tên là Linh. Vào ngày 23 tháng 10 ông được Linh đưa đến một trường học để gặp gỡ hai người đàn ông. Họ cho biết là họ cần 10 tình nguyện viên “tự thiêu” và hỏi ông có đồng ý trở thành một trong mười người không. Ông trả lời chấp nhận vì cảm thấy bất bình vì những tin tức đã nghe về những hành vi tàn bạo của chính phủ đối xử với các nhà sư….

 Tăng sĩ trẻ này cũng được cho biết là một nhà sư tên là Phan Mỹ sẽ tự sát bằng cách tự châm lửa đốt mình ngay trước khuôn viên nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế Sàigòn…. Họ khuyến dụ ông nên làm như vậy tại lễ kỷ niệm Quốc khánh bởi vì nhiều người sẽ ở đó, bao gồm cả các đại diện của Hoa Kỳ và các quốc gia trên thế giới….

Khi ông hỏi là bằng cách nào ông có thể tới được địa điểm cử hành Lễ Quốc Khánh ngày 26 tháng 10, họ trấn an ông là không phải lo lắng vì ông sẽ được cấp một bộ đồ màu trắng và áo choàng vàng. Sẽ có một chiếc xe chở mang bảng được phép lái vào khu vực. Khi xe đến đó, ông xuống xe với dáng bộ tự nhiên bình thường. Chiếc xe sẽ được lái đi. Ngay sau đó ông ngồi xuống, mặc áo choàng vàng, đánh diêm và tự thiêu.

Họ cũng hứa là sẽ cho ông một số viên thuốc để không cảm thấy đau đớn.

Vào ngày 24 tháng 10, anh Linh lại đến chùa Từ Vân để trao cho nhân chứng ba bức thư, trong đó có một bức thư. đã được gửi tới Tổng thống Việt Nam Cộng hòa. Bức thư này yêu cầu tôn trọng quyền tự do tôn giáo, trả tự do cho các sinh viên, các nhà sư và nữ tu bị bắt. Lá thư thứ hai là ngỏ lời với sư trưởng Thích Thiện Hòa tại chùa Ấn Quang. Trong bức thư này nội dung cáo buộc Thích Thiện Hòa phản bội tăng ni, Phật tử (vì vị Hòa thượng này đã công khai tố cáo việc làm chính trị của Thích Trí Quang và những người khác và kêu gọi Phật tử ngưng xuống đường, quay trở về chùa) . Bức thư thứ ba được gửi cho phái bộ Liên Hiệp Quốc trình bày cho họ biết lý do tại sao ông lại tự tử. Những lá thư này đã được chuẩn bị trước và họ trao cho ông yêu cầu ký tên ưng thuận và ông đã ký.

Vẫn theo tường thuật của tác giả “Our Vietnam Nightmare” thì, may mắn cho vị sư trẻ này là ông đã tình cờ gặp lại ông Hai, một người bạn Phật tử, trên đường phố vài ngày trước khi vụ tự tử “tự nguyện”của ông diễn ra. Vị sư trẻ nói như lời trăn trối với Ông Hai rằng sẽ không gặp lại anh ta sau ngày 26 tháng 10. Được cảnh báo, Ông Hai đã thực hiện ngay các điều cần thiết khiến cho vụ tự tử của người thanh niên đã được ngăn chặn và anh ta được nói cho biết sự thật rằng những câu chuyện về hành vi tàn bạo là hoàn toàn bịa đặt.

Trong cuộc thẩm vấn nhân chứng số 8, Đại sứ Amor của Maroc, người từng là báo cáo viên của phái bộ Liên hợp quốc, đã nêu câu hỏi: “Bạn có ăn năn về ý định hiến thân vì sự hy sinh tôn giáo và bạn có vui vì mình đã không tự sát không?” Nhân chứng trả lời: “Tôi rất vui vì tôi đã không tự sát”.

Đây chính là những phát giác đặc biệt do Phái bộ Liên Hiệp Quốc đưa ra để cho thấy sự thật về cáo buộc đàn áp tôn giáo của TT Diệm và chính quyền miền Nam Việt Nam. Đối tượng đại diện cho một trong những nạn nhân may mắn thoát khỏi cái bẫy do mạng lưới cá  nhân, phe nhóm của Thượng tọa Thích Trí Quang sắp đặt. Chắc chắn nó không hề liên hệ tới căn tính Phật Giáo và tập thể những người Con Phật chân chính.

Trên đây là những phát hiện của bà Margueritte Higgins trong cuốn “Our Vietnam Nightmare” đụợc tác giả, Giáo sư Vũ Quý Kỳ đưa vào chương 10 tập 2 tác phẩm “The Vietnam Upheaval” của ông. Nguyên văn những chi tiét về nội dung câu trả lời trên đây của “nhân chứng số 8” không chỉ có trong Bản Tường Trình của Phái Bộ Liên Hiệp Quốc mà còn được trích lại nguyên văn trong lá thư của Thượng Nghị Sĩ Thomas Dodd gửi cho người đồng viện của ông là TNS James O. Easland, Chủ Tịch UB Nội An Thượng Viện Hoa Kỳ thời ầy.

Tác giả họ Vũ còn đưa vào tác phẩm của ông những nhận định sau đây của nữ ký giả Margueritte Higgins liên quan tới chuyện tung tin đồn và thái độ nhẹ dạ cả tin -hay cố tình tin- của công luận Việt cũng như Mỹ. Theo tác giả “Our Vietnam Nightmare:

Chắc chắn rằng ở Việt Nam, với trình độ dân trí thấp và tinh thần trách nhiệm đạo đức của tầng lớp xã hội xoay quanh những câu chuyện gẫu lúc “trà dư tửu hậu”, người ta có khả năng tin vào hầu hết mọi thứ, thượng vàng hạ cám. Sau đó, bà nói thêm với một suy tư buồn: “Người Việt Nam không phải là những người duy nhất chấp nhận tin đồn là sự thật. Ví dụ, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao, khi thảo luận về các cuộc đột kích một số chùa chiền ở  Sàigòn vào ngày 19-8 của quân đội, cảnh sát thuộc chính quyền miền nam, đã cho rằng hai người đã bị giết. Nhưng điều này không đúng. Không có tăng ni nào bị thương trong vụ đột nhập các chùa  ngày 19 tháng 8 và ngay cả sau đó.

Không phải chỉ riêng người phát ngôn của Bộ Ngoại Giao chấp nhận những tin đồn là sự thật. Sau cuộc đột kích vào các chùa (20-21/8) Halberstam báo cáo rằng ba mươi người đã thiệt mạng, trong đó có một số nhà sư trong cuộc đột kích vào chùa Từ Đàm ở Huế –  The State Department spokesman was not alone in accepting rumors as fact. After the raid on the pagodas (August 20-21), Halberstam reported that thirty people had been killed including several monks during the raid on Tu Dam pagoda in Hue.”

Bà cho biết thêm:

“Ông ta lặp lại tuyên bố này vài năm sau đó trong cuốn “The Making of a Quagmire”, mặc dù không viết trong cuốn sách nổi tiếng hơn sau đó của ông, “The Best and The Brightest”. Báo cáo của Halberstam về Huế cùng với lời tường thuật của ông ta về việc dùng lưỡi lê và bắn chết các nhà sư Phật giáo tại chùa Xá Lợi, đã tạo ra một sự chấn động quốc tế khiến Liên Hiệp Quốc phải gửi một ủy ban điều tra đến miền Nam Việt Nam. Ủy ban không đến được Sài Gòn cho đến ngày 24 tháng 10, lúc đó tổng số Phật tử được cho là đã chết trong cuộc di tản chùa chiền đã giảm xuống còn bốn người, hai người ở Huế và hai người ở Sài Gòn. Sau khi điều tra, các thành viên ủy ban đã thực sự gặp và phỏng vấn cả bốn nhà sư này. – He repeated this claim a couple of years thereafter in “The Making of a Quagmire”, though not in his subsequent and more famous book, “The Best and the Brightest”. Halberstam’s reporting on Hue together with his account of the bayoneting and the shooting of Buddhist monks at Xa Loi pagoda, created an international stir that eventually caused the United Nations to send an investigative commission to South Vietnam. The commission did not reach Saigon until October 24, by which time the alleged total of Buddhist dead during the pagoda evacuation had shriveled to four, two of them in Hue and two in Saigon. Upon investigation, commission members actually met and interviewed all four of these monks.

Nữ ký giả Margueritte Higgins còn tiết lộ nhiều chi tiết khác cho thấy bản chất thiên tả, dối trá của giới ngoại giao, cách riêng báo giới Hoa Kỳ. Có thể đoan quyết mà không sợ sai lầm rằng, chính sự bất lương này đã là căn nguyên cơ bản dẫn tới sự sụp đổ nền Đệ NhấtCộng Gòa Việt Nam và cái chết thảm khốc của anh em Tổng Thống Ngô Đình Diệm sau đó.

TNS Thomas Dodd

Từ đấy chúng ta sẽ hiểu được sự phẫn nộ của TNS Thomas Dodd trong lá thư gửi TNS James O. Easland, Chủ Tịch UB Nội An Thượng Viện Hoa Kỳ ngày 17-02-1964.

Thượng nghị sĩ Thomas J. Dodd sinh năm 1907, mất năm 1971. Ông thuộc đảng Dân Chủ từng là Dân biểu hai nhiệm khóa tại Hạ Viện. Sau đó, trở thành Thượng Nghị Sĩ thuộc Ủy Ban Tư Pháp Thượng Viện Hoa Kỳ. Ông là một chính khách Mỹ nổi tiếng. Khác với nhiều đồng viện đương thời, ông ủng hộ triệt để chủ trương tham chiến tích cực hơn ở Việt Nam để ngăn chặn sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản và giúp đỡ nhân dân VNCH.

              Nội dung lá thư của TNS Dodd nói lên nhiều điều, qui chiếu vào hai điểm sau đây:

Thứ nhất: là một chính khách nặng lòng đối với Hiệp Chúng Quốc. Sự sụp đổ của nền Đệ Nhất CHVN giúp ông nhận ra những khuất tất có dự mưu của hệ thống truyền thông Mỹ quốc cùng với sự lệ thuộc quá nhiều của chính quyền Hoa Thịnh Đốn vào những nguồn tin báo chí bất lương thời Tổng Thống John F. Kennedy.

Ông viết.

“Phái bộ, như BTT cho thấy, đã có thể phỏng vấn một số lãnh tụ Phật giáo và lãnh tụ thanh niên mà Báo chí tường trình là đã bị giết trước đó. Cũng không thể tìm ra bằng cớ chứng minh cho những bài tường trình đã được đăng trên Báo chí rằng các nhà sư đã bị quăng xuống đất từ những tầng trên, trong cuộc bố ráp Chùa Xá Lợi.

Điều tất cả các bài tường trình đạt được, theo ý kiến của ông, là một lần nữa Dân Mỹ bị thông tin sai lạc một cách trầm trọng bởi một số Báo chí về tình hình của một đất nước xa lạ mà rất liên quan đến họ. Người Mỹ được cho biết rằng Chính phủ Ô. Diệm đã có tội trong việc đàn áp tôn giáo một cách tàn bạo đến nỗi đã làm cho các thầy tăng ngây thơ vô tội buộc phải tự sát để phản đối. Bây giờ hoá ra rằng chuyện đàn áp đó hoặc không có hoặc đã bị thổi phồng rất nhiều, và rằng sự dấy động chủ yếu là sự dấy dộng chính trị, –  The mission, as its report pointed out, was able to interview a number of Buddhist leaders and youth leaders who has been reported killed. It could find no evidence to substantiate published reports in the press that Buddhist monks had been thrown from upper stories during the raid on the Xa Loi Pagoda.

What all this adds up to, in my opinion, is that the Americain people have once again been grivously misinformed by some of their newspapers on a foreign situation that vitally concern them. We were told that the Diem government was guity of such brutal religeouss persecution that innocent Buddhist monks has been driven to commit suicide in protest, Now it turns out that the persecution was either nonexistant or vastly exaggerated, and that the agitation was essentially political.”

Để chứng minh cho niềm tin của mình, TNS Dodd nêu lên vài trường hợp cụ thể trong quá khứ và cả vào thời điểm lúc bấy giờ cho thấy tính chất bất lương của hệ thống báo chí HK. Đầu tiên, theo ông Dodd. trong Đệ Nhị Thế Chiến, nhiều tờ báo lớn Mỹ tung tin:

“Mikhailovich là một người hợp tác với Quân đồng minh và Tito là một nhà ái quốc vĩ đại theo chủ nghĩa Quốc gia. Kết cục Tướng Mikhailovich là một người phản bội và sự thiết lập chủ nghĩa cộng sản ở Nam Tư  –  Mihailovich was a collaborator and Tito was a great national leader. The result was the betrayal of General Mihailovich and the installation of a Communist regime in Yugoslavia.

Sau khi thế chiến thứ hai kết thúc, một số báo chí lại cho rằng:

“… Tưởng Giới Thạch là một tên lừa đảonhững người CS Trung Quốc là những nhà cải cách ruộng đất; và kết quả là sự nhìn gà hoá cuốc này đã dẫn đến chuyện thiết lập chế độ CS ở Trung Quốc …. Chiang was a crook and the Chinese Communists were agrarian reformers; and the result was a confusion of policy that led to the installation of a Communist regime in China.

Chưa hết, vẫn theo ông Dodd:

“…mới đây thôi, có những tờ báo nói cho dân Mỹ biết rằng: Castro không phải là một tên CS mà là một kết hợp giữa Robin Hood và Thomas Jefferson; và kết quả là một chế độ CS ra đời ở Cuba!”- At a later date there were papers which told the American people that Castro was not a Communist but a cross between Robin Hood and Thomas Jefferson; and the result was a Communist regime in Cuba!

Trở về với hệ quả tệ hại trước mắt của biến cố 01-11-1963, thư của TNS Thomas J. Dodd  gửi TNS James O. Eastland viết với giọng mỉa mai nhưng qua đó cho thấy những điều ông tiên đoán đã trở thành sự thật 12 năm sau:

“Bây giờ chúng ta lại trở thành nạn nhân của một trò xỏ lá khác, và rồi hậu quả của chuyện xỏ lá này là Chính phủ của Tổng thống Ngô Đình Diệm đã bị tiêu diệt, điều này dẫn tới tình trạng hỗn loạn, và tình trạng hỗn loạn đã tạo ra một tình thế là khó mà chống lại chuyện CS sẽ chiếm quyền – Now we have been the victim of still another hoax, in consequence of which the government of Ngo Dinh Diem has been destroyed and a chaotic situation has been created that will make a Communist takeover more difficult to resist”.

Từ cách nhìn tiêu cực về báo chí và nói chung, truyền thông Hoa Kỳ, TNS Dodd quả quyết là nó đã tạo ảnh hưởng quá tệ cho vấn đề an ninh nội địa Mỹ. Do đó ông đề nghị TNS Eastland in và phân phối BTT cho mỗi TNS với hy vọng là các vị này sẽ kiếm giờ để đọc và suy nghĩ một chút về những hàm ý trong đó. Ông cũng tin rằng: Nó có thể giúp ích nếu các thành viên Báo chí tự vấn về chuyện những tờ báo quan trọng Mỹ đã có thể làm cho chúng ta lầm đường lạc lối đến như thế trong những tình huống kể trên.

Thứ hai: Ngoài cái nhìn về khía cạnh tiêu cực của truyền thông, báo chí Mỹ hướng vào quyền lợi nước Mỹ, nội dung lá thư còn cho thấy TNS Dodd đánh giá rất cao tính xác thực của Bản Tường Trình do Phái Bộ điều tra LHQ thực hiện.

Vì lý do BTT kết thúc khi chế độ Đệ Nhất CHVN vừa cáo chung khiến LHQ khép lại không đưa ra Đại Hội Đồng và Phái Bộ điều tra cũng không có phán quyết chính thức, nhưng TNS Dodd vẫn tin rằng:bất cứ người nào có cái nhìn khách quan cũng sẽ phải kết luận, sau khi đã đọc nó, rằng: những báo cáo về sự bức hại lớn lao gây cho Phật giáo, nhẹ nhất, bị thổi phồng quá nhiều, và nặng nhất, là một sự dối trá bần tiện nhằm mục đích tuyên truyền.

Đề cập chủ trương của Phái bộ không điều tra các động cơ chính trị nằm đằng sau những kẻ dẫn dắt biến cố 01-11-63, nhưng nếu ai hỏi về vấn đề này có thể tìm thấy qua lởi TNS Dodd:

“…câu trả lời cho câu hỏi này là từ Thích Trí Quang, lãnh tụ Phật giáo số 1, người đã vào trốn trong Toà đại sứ Hoa Kỳ và đã trả lời cho cô Marguerite Higgins. Cô Higgins trích lời Thích Trí Quang nói với cô: ‘Chúng tôi không thể đạt được một sự thoả thuận với Miền Bắc cho tới khi chúng tôi đã loại được Diệm và Nhu!’  –  the answer to this question was given to Miss Marguerite Higgins by Thich Tri Quang, the No. 1 Buddhist leader who took refuge in the American Embassy. Miss Higgins quoted Thich Tri Quang as telling her: ‘We cannot get an arrangement with the north until we get rid of Diem and Nhu!’”

Câu trả lời cô Higgins của ông Thích Trí Quang trên đây hẳn đã đủ cho công luận nhìn ra mối liên hệ giữa cao trào đấu tranh Phật Giáo ở nam VN năm 1963 với Hànội như thế nào.

Nói về nội dung cuộc phỏng vấn của hãng Thông Tấn NCWC ngày 20-11-1963 dành cho Đại sứ Costa Rica, Ô. Fernando Volio Jimenez, TNS Dodd nhắc lại nguyên văn một lời tuyên bố của ông Volio sau đây:

Cá nhân tôi, tôi cảm thấy rằng chẳng có một chính sách xử tệ, đàn áp, hoặc bức hại nào đối với các Phật tử vì lý do tôn giáo. Những chứng từ như thế thì thường là những lời đồn đãi, và được diễn tả bằng những lời lẽ mơ hồ hay chung chung….-  It is my personal feeling that there was no policy of discrimination, oppression, or persecution against the Buddhist on the basis of religion. Testimonies to this effect was usually hearsay, and was expressed in vague or general terms….” TNS Dodd kể lại trong thư gửi TNS Chủ tịch UB Nội An TNV sau cuộc gặp gỡ trực tiếp ĐS Fernando Volio Jimenez. Theo đó, Đại sứ Volio nói với ông rằng:

“…. sau 2 tuần điều tra cực kỳ kỹ lưỡng ở Việt Nam ông đã đi đến kết luận là những lời kết án đã được hình thành trong Đại Hội Đồng trước đó nhằm chống lại chế độ Ô. Diệm không còn chấp nhận được nữa; ông cảm thấy những bằng cớ hiển nhiên Phái bộ thu lượm được không còn chỉ ra được rằng có chuyện xử tệ tôn giáo hay có sự xâm phạm quyền tự do tôn giáo nào nữa. – …. after 2 weeks of intensive investigation in Viet-Nam, he had arrived at the conclusion that the charges made in the General Assembly against the Diem regime had not been sustained; he felt that the evidence accumulated did not indicate that there was religious discrimination or any encroachment on the freedom of religion.”***

Trần Phong Vũ
Miền Nam Calufornia, ngày Thứ Ba, 05-10-2021

_____________________

           * Cách đây khoảng 5 năm, với sự tiếp tay của ký giả Ngy Thanh (Houston, Texas), nguyên cộng tác viên nhật báo Sóng Thần, Sàigòn trước 75, nhà văn kiêm dịch giả Nguyễn Văn Thực hiện định cư ở Na Uy đã tìm được nguyên bản Anh ngữ Bản Tường Trình của Phái Bộ Liên Hiệp Quốc qua nam VN Tìm Hiểu Sư Thật về biến cô Phật giáo năm 1963 cùng một số tư liệu liên hệ quan trọng trong văn khố tổ chức Liên Hiệp Quốc và Bô Ngoại Giao Hoa Kỳ. Ông đã chuyển sang Việt ngữ toàn bộ Bản Tường trình này và sau khi được sự yểm trợ tinh thần của Giáo Sư Trần Huy Bích, nhà văn Phạm Tín An Ninh, Đốc Sự Hành chánh Nguyễn Đắc Điều, ông gửi cho chúng tôi để bàn chuyện xuất bản.

             Sau một thời gian dài suy nghĩ, trao đổi, cân nhắc, và khi được sự đồng thuận của nhiều thức giả trong, ngoài nước, ba anh em chúng tôi, dịch giả Nguyễn Văn Thực, Vi Khiêm Nguyễn Văn Liệm và chúng tôi (Trần Phong Vũ) cùng đứng tên v ề bi ến c ố PD đại diện một số bằng hữu khắp nơi quyết định ấn hành.

Kết cuộc bản layout sử liệu quan trọng song ngữ Việt/Anh 720 trang, khổ  lớn, bìa cứng này đã được gửi qua Đài Loan in và hiện đang trên đường vể cảng Long Beach khoảng đầu tháng 11-2021.

** Là một người ngoại quốc, bà Margueritte Higgins khi nêu danh “Tổng Hội Phật Giáo” là do ngay tình, có thể vì không hiểu cơ cấu này có thật của Giáo Hội Phật Giáo hay chỉ là một cơ cấu do cá nhân, phe nhóm  nào đó lợi dụng danh nghĩa Phật giáo lập ra cho một mục đích riêng?

             ***Những đoạn tô đậm hay gạch đáy do người viết muốn nhấn mạnh.

Bài liên quan:
  • HỘI LUẬN 23/10/2021. Gia Tăng Căng Thẳng Ở Bán Đảo Triều Tiên & Biển Đông
    BS Nguyễn Trọng Việt
  • SỔ TAY THƯỜNG DÂN: Thời Chó Má!
    Tưởng Năng Tiến
  • Giáo dục quái đản: Thầy giáo… tháo giầy!
    Lê Thiên
  • Vì sao nói Trung Cộng khó vượt Mỹ ?
    Nguyễn Hải Hoành
  • Thanh trừng liên tục giúp Tập Cận Bình kiểm soát ngành công an ?
    Katsuji Nakazawa