Trần Phong Vũ

Đệ Nhất Cộng Hòa Việt Nam: Căn Nguyên Đổ Vỡ(Đọc chương 6 “The First Republic of VN” của GS Vũ Quý Kỳ)Bài 1: Sự Hiểu Sai Về Bản Chất Cuộc Chiến

Trong chương 6 từ trang 423 tác phẩm “The First Republic of VietNam – South VietNam And The Alliance Against Communist North VietNam (1945-1963)”,  Giáo sư Vũ Quý Kỳ đã tập trung vào những nét đặc biệt trong chính tình miền Nam, những căn nguyên xa gần dẫn tới biến cố ngày 1-11-1963, nền Đệ Nhất Cộng Hòa Việt Nam sụp đổ, TT Ngô Đình Diệm và ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu bị thảm sát.

Nội dung bài nhận định này dựa vào chương sách trên và sự hiểu biết hạn hẹp của riêng mình, chúng tôi sẽ cố gắng nói lên bản chất đích thực của chiến cuộc mà Bộ phim đồ sộ của Ken Burns đã cố tình xuyên tạc từ một cuộc xâm lăng do Hà Nội khơi động với sự hỗ trợ của Bắc Kinh và Mạc Tư Khoa thành cuộc nội chiến*. Có thể nói nó chỉ là một màn múa rối được dàn dựng và điều khiển khéo léo bởi Bộ Chính trị của Hà Nội và cái gọi là Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam” (MTDTGPMN) thực sự điều hành. Từ xác quyết trên đây, mở vào chương 6 tác phẩm trên, tác giả không ngần ngại thẳng thắn đưa ra nhận định: “Nhiều thành viên của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ dường như giữ quan điểm rằng cuộc chiến ở miền Nam Việt Nam là một cuộc chiến cách mạng’”, theo nghĩa là một cuộc ‘nổi dậy’ của nông dân bất mãn chống lại chính phủ do Tổng thống Diệm lãnh đạo – “Many members of the State Department seemed to hold the view that the war in South Vietnam was a ‘revolutionary’ war, in the sense that it was an ‘uprising’ by the discontented peasants against the government led by President Diệm”.

Trong đoạn kế, ông cho rằng: MTDTGPMNVN chỉ là chiếc mũ chính trị do Hà Nội đẻ ra để ngụy tạo tính hợp pháp hầu che đậy cuộc xâm lược của cộng sản miền Bắc, thúc đẩy một “cuộc nổi dậy bản xứ” giả trá ngay trong lòng chế độ miền Nam Việt Nam. Là người rời bỏ miền Bắc sau hiệp định chia đôi đất nước tháng 7 năm 1954 vào miền Nam tìm tự do, chúng tôi hoàn toàn chia sẻ nhận định trên đây của tác giả.

Trong bài “Tháng Bảy Mưa Ngâu, Tháng Bảy Song Thất” đăng trên Nguyệt San Diễn Đàn Giáo Dân số táng 7 năm 2010, người viết đã đúc kết những khó khăn, trở ngại về nội trị cũng như ngoại giao tưởng chừng không thể vượt qua của Thủ Tướng Diệm trong mấy tháng đầu về nước chấp chánh. Nhưng chỉ một năm sau, với tinh thần yêu nước cao độ, và với nhiệt tình ủng hộ của đồng bào miền Nam và ngót một triệu dân di cư từ miền Bắc, ông Diệm đã chấm dứt nạn Sứ Quân, thống nhất Quân Đội, dẹp bỏ các ổ bài bạc Kim Chung, Đại Thế Giới, các xóm Bình Khang đĩ điếm, trả lại cho Thủ Đô Sàigòn phương danh “Hòn Ngọc Viễn Đông”.

Quan trọng hơn hết là sau cuộc trưng cầu dân ý ngày 23-10-1955, ba ngày sau, miền Nam tuyên bố độc lập với Quốc hiệu Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và Thủ Tướng Diệm được suy tôn là Tổng Thống thứ nhất của nền Cộng Hòa Việt Nam. Ngày 26-10 cũng đương nhiên trở thành Ngày Quốc Khánh. Và từ đấy mở vào một nhịp sống thanh bình, no ấm, huy hoàng của một miền Nam cường thịnh, được hầu hết các quốc gia tự do trên thế giới nhìn nhận. Thủ Tướng Lý Quang Diệu của một Tân Gia Ba -biểu tượng cho văn minh tiến bộ toàn vùng Đông Nam Á ngày nay-, vào thời điểm vàng son ấy của VNCH đã coi Việt Nam như một mẫu mực để theo đòi trên bước đường xây dựng và phát triển đảo quốc do họ Lý nắm quyền. Trong khi ấy, đội tuyển bóng đá của Nhật đã phải hạ mình qua Thủ đô Sài Gòn học hỏi kỹ thuật thủ thành, giao banh, làm bàn của đội tuyển Việt Nam.

Cho đến năm 1960, tiếp theo cuộc đảo chính bất thành của cặp Tướng/Tá Nguyễn Chánh Thi/Vương Văn Đông ngày 11/11, dưới sự đỡ đầu của tập đoàn cộng sản Hà Nội, chẵn 40 ngày sau, cái gọi là MTDTGPMNVN tuyên bố ra đời hôm 20-12. Cũng từ đấy, những thành phần trí thức thiên tả và những kẻ theo đóm ăn tàn ở Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng bắt đầu xuất hiện. Họ nắm bắt thời cơ thành lập các tổ chức với những danh xưng mỹ miều như Phong Trào Hòa Bình, Phong Trào Phụ Nữ Đòi Quyền Sống, Ủy Ban Chống Chế Độ Lao Tù, Ủy Ban Đoàn Kết Yêu Nước Công Giáo Việt Nam, v.v… do những tên tuổi như Ngô Bá Thành, BS Lê Khắc Quyến, BS Dương Quỳnh Hoa, Ni Sư Huỳnh Liên, Thượng Tọa Thích Trí Quang, Linh Mục Huỳnh Công Minh, Trương Bá Cần v.v… lãnh đạo. Ngoài những tổ chức và những khuôn mặt trí thức kể trên, còn có những nhân vật công khai gia nhập MTDTGPMNVN.

Theo tác giả Vũ Quý Kỳ, đây là kết quả những tính toán quỷ quyệt của Hồ Chí Minh, một tay cộng sản quốc tế có nhiều kinh nghiệm xương máu trong kế sách khơi động các cuộc chiến tranh khuynh đảo tại các quốc gia nhỏ mới giành được độc lập từ tay thực dân. Vẫn theo ông, không ai khác, chính họ Hồ với sự tiếp tay đắc lực của tên cộng sản khát máu Lê Duẩn, là linh hồn của các thủ đoạn ma mãnh, gian ác với mục tiêu đánh tráo khái niệm giữa điều chúng ngụy danh là “giải phóng” để che đậy thực chất của một mưu toan “khuynh đảo, xâm lược” nhằm đẩy mạnh mưu toan thôn tính Việt Nam Cộng Hòa.

Trong đoạn nói về lỗi lầm “hiểu sai bản chất cuộc chiến”, tác giả nhận định đại khái như sau. Sự chuẩn bị công phu của họ Hồ đã đem lại thành công lớn cho Hà Nội trong việc đánh lừa một số lượng khá lớn trí thức và chính trị gia phương Tây. Về phía miền Nam, một nhúm trí thức người Việt đã ngây thơ, khờ khạo bỏ Sài Gòn vào bưng gia nhập MTDTGPMNVN như những con rối dưới sự điều khiển của những tay phù thủy cộng sản Bắc Việt. Trong số những khuôn mặt chính trị gia gốc miền Nam là thành viên MTDTGPMNVN này, không nhất thiết là cộng sản, bị đánh lừa bởi tay tổ gian dối họ Hồ, gia nhập Mặt trận với giả định ngây thơ rằng họ đang chiến đấu cho một sự nghiệp yêu nước. Điều tệ hại là chính giả định này đã trở thành dữ kiện cụ thể và là căn nguyên cho bộ máy tuyên truyền bịp bợm của Cộng sản miền Bắc có thêm bằng chứng để khua chiêng, gõ mõ, tô vẽ cho Mặt Trận hầu đánh lạc hướng dư luận.

Bi kịch là các trí giả phương Tây, trong đó có một số chính trị gia và các nhà báo Mỹ đã bị mờ mắt trước khẩu hiệu “giải phóng dân tộc” do Hồ Chí Minh giăng ra để bị sa vào ngộ nhận ‘chết người’ về bản chất cuộc chiến. Trong khi thực chất đây là cuộc chiến tranh tự vệ của quân dân Việt Nam Cộng Hòa chống lại mưu toan xâm lược của Bắc cộng thì lại cho rằng nó là cuộc nổi dậy của quần chúng bất mãn ở miền Nam Việt Nam.

Sự nhìn gà hóa cuốc này đưa tới quan niệm sai lầm rằng “chiến tranh Việt Nam là một cuộc nổi dậy từ bên trong” –một cuộc ‘nội chiến’– đã được sử dụng để thúc đẩy một đường lối hành động có lợi lớn về mặt tinh thần cho kế hoạch xâm lược của họ Hồ. Từ đấy đã vô tình làm suy yếu công cuộc chiến đấu tự vệ của miền Nam Việt Nam. Để chứng minh cho những suy tư của mình, tác giả đã trưng dẫn nhận định trong “Lost Victory” của William Colby như sau:

It is indicative of the failure to understand the nature of the conflict, which would persist through the final collapse in 1975, that American perception of this critical turning point in 1959 was nil. Ironically, in 1959, at the same time the Lao Dong Party in Hanoi was reaching its conclusions after Le Duan’s trip to the South, the American intelligence community produced a National Intelligence Estimate assessing the prospect for Vietnam”. Tạm dịch: “Nó chỉ ra sự thất bại về hiểu biết bản chất cuộc xung đột, –vốn còn dai dẳng qua sự sụp đổ cuối cùng (của miền Nam Việt Nam) vào năm 1975,– rằng nhận thức của người Mỹ về bước ngoặt quan trọng này vào năm 1959 là số không. Điều khôi hài là vào năm 1959, cùng lúc Đảng Lao Động ở Hà Nội đang dẫn tới kết luận sau chuyến đi của Lê Duẩn vào miền Nam, thì cộng đồng tình báo Mỹ đã đưa ra một Bản Lượng Giá của Tình báo Quốc gia về triển vọng đối với Việt Nam”.

Thực chất Bản Lượng Giá đó không gì khác hơn là sản phẩm của những thành kiến, hiểu lầm, bao gồm luôn cả thái độ phản bội, đổi chiều của một số những tay chân thân tín vây quanh Tổng Thống Kennedy thời ấy.

Nền tảng tạo nên những thành kiến, ngộ nhận này trong đầu óc một số không nhỏ những giới chức ngoại giao Mỹ đang trực tiếp sắm vai trò trung gian giữa Bạch Cung và miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ là thái độ hãnh tiến, trịch thượng, luôn coi nhẹ vấn đề chủ quyền của Việt Nam. Vì thế không lạ khi William Colby, Tác giả “Lost Victory” đã xa gần chỉ ra quan điểm sai lầm cơ bản của đối tác Hoa Kỳ trong vai trò “cầm lái cuộc chiến” ở miền Nam Việt Nam.

GS Vũ đã tỏ ra hết sức tinh tế khi trưng dẫn nhiều lần hai từ “Việt Cộng” được Mỹ hóa, thường xuất hiện trên các hệ thống truyền thông báo chí Hoa Kỳ là “VIETCONG”. Vẫn theo nhận định của tác giả họ Vũ, điều oái oăm chết người là không chỉ truyền thông mà cả chính giới Mỹ đã vô tình hay cố ý ngộ nhận, và tạo thêm ngộ nhận cho độc giả, khán thính giả Mỹ và khắp thế giới hiểu lầm từ VIETCONG là danh xưng dành cho MTDTGPMNVN. Nói rõ hơn là những lực lượng võ trang cộng sản đang chiến đấu chống lại chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Nó minh nhiên xuất hiện trên các văn kiện chính thức của các viên chức Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ ở Hoa Thịnh Đốn hoặc tòa Đại Sứ Mỹ ở thủ đô Sài Gòn khi trao đổi với đối tác trực tiếp là TT Diệm và chính phủ do ông lãnh đạo. Riêng với William Colby sự ngộ nhận tai hại này còn kéo dài sau khi Đệ Nhất Cộng Hòa sụp đổ cho tới biến cố 30-4-1975, ngày CS Bắc Việt xua quân thôn tính toàn bộ phần lãnh thổ miền nam vĩ tuyến 17!

Quả thật không hẹn mà đầu năm 1964, khi có dịp đọc Bản Tường Trình của Phái Bộ Liên Hiệp Quốc tìm hiểu sự thật về vấn đề Phật Giáo ở miền Nam Việt Nam (vào lúc Đệ Nhất Cộng Hoà Việt Nam sụp đổ, TT Diệm và Cố Vấn Nhu bị giết), Thượng Nghị Sĩ Thomas Dodd đã có viễn kiến như một nhà tiên tri khi trong lá thư gửi một đồng viện, ông viết: đây là chỉ dấu cho thấy ngày Hà Nội thôn tính Việt Nam không còn bao xa.**

Theo Giáo sư Vũ Quý Kỳ, dù vô tình hay cố ý, sự hiểu sai qua việc tách rời để gán danh xưng “Việt Cộng” cho bọn thảo khấu tay sai của Cộng sản Ba Đình đang sát hại nhân dân miền Nam đã hàm ẩn một số vấn đề. Trước hết, từ sự kiện nghĩ sai, hiểu sai, viết sai cho thấy sự thiếu kiên định và nỗ lực để cảm thông với chính quyền của TT Diệm đang phải đối mặt với một cuộc chiến do cộng sản Bắc Việt cầm cương với sự đỡ đầu của khối cộng sản quốc tế. Từ đấy, nó cũng lý giải cho lầm lẫn căn bản mà những đồng minh phương Tây có thiện chí đến trợ giúp miền Nam Việt Nam nhưng lại thiếu khả năng và ý chí để tìm hiểu những vấn đề căn bản vốn rất phức tạp tại địa phương. Thứ đến, cùng một thuật ngữ “Việt Cộng” (hay VIETCONG theo cách viết phía Hoa Kỳ), nhưng khi sử dụng trong các cuộc đối thoại giữa các đại diện trong chính quyền Việt Nam Cộng Hòa và các đối tác Mỹ, luôn có những ý nghĩa khác nhau qua tai nghe và trí óc suy nghĩ của các tác nhân có mặt trong cuộc đối thoại. Không phải chỉ xảy ra một thời gian mà hầu như trong suốt cuộc chiến. Làm sao kể hết được sự thất vọng phía Việt Nam khi phải thường xuyên đối diện với sự hiểu lầm khó chấp nhận từ các đối tác của họ trong suốt cuộc xung đột kéo dài.

Tiếp theo, với cái nhìn hời hợt bề ngoài, vấn đề tuồng như không đáng quan tâm. Nhưng nếu nhìn kỹ vào căn nguyên và hậu quả của nó, người ta sẽ dễ dàng nhận ra tính cách quan trọng sống/chết của vấn đề. Với định kiến MTDTGPMNVM và những lực lượng vũ trang của chúng là những thực thể riêng biệt của miền Nam mà không đủ sáng suốt để nhận ra nó chỉ là một thứ con rối của Hà Nội, vô hình chung vì ngờ nghệch hoặc vì bất cứ lý do nào khác, đã tự sa đà vào thuyết “Nội Chiến”. Sự sai lầm cực kỳ nghiêm trọng này đã tạo nên một cơ hội bằng vàng cho tập đoàn cộng sản xâm lược miền Bắc rút ngắn dã tâm thôn tính miền Nam.

Trần Phong Vũ
Nam California, Thứ hai, ngày 19-1-2026


* Nơi mục 4 với tiêu đề “Không chính xác từ cách gọi tên cho cuộc chiến”, bài viết mang tựa đề “The Vietnam War – Đôi điều cần phải nói” tác giả, nhà văn Phạm Tín An Ninh viết “Ken Burns gọi cuộc chiến Việt Nam là “nội chiến”. Điều này không đúng. Nếu là một cuộc nội chiến thì đã không có 58.220 người Mỹ đã chết tại Việt Nam. Chính vì sự méo mó này, mà trong suốt cuốn phim, không thấy đề cập nhiều đến các nước Cộng sản, đặc biệt là Liên Xô và Trung Cộng luôn là những quan thầy của CSVN và hỗ trợ hết mình để mang thắng lợi cho cộng sản miền Bắc. Trong những bài kế tiếp, người viết sẽ còn có nhiều dịp để trích những chứng từ quý giá khác trong bài viết của nhà văn Phạm Tín An Ninh.

** Bản Tường Trình (BTT) do bản thân tôi cùng với một Nhóm Thân Hữu, trong số có ký giả Vi Khiêm Nguyễn Văn Liêm và nhà văn Nguyễn Văn Thực hiện sống tại Na Uy xuất bản BTT 722 trang này dưới dạng song ngữ Việt Anh. Ông cũng là dịch giả BTT và là người cùng với nhà báo Ngy Thanh tìm ra bản gốc, Anh ngữ. Trong một bài tới, người viết sẽ có dịp trở lại chững chng từ giá trị của vị Nghị sĩ Thượng Viện Hoa Kỳ hiếm có trong đảng Dân Chủ, sau khi ông đọc qua BTT của phái bộ Liên Hiệp Quốc.

Loading