________________

Nền kinh tế thế giới đang chuyển hướng, mở ra “ngõ ngách”mới. Trung cộngnhiều đất hiếm hơn cũng không thểcứ mãi “bắt bí” các quốc gia có kỹ thuật tân tiến, nhưng chưa muốnkhai khoáng.Cũng vậy, Iran không thể mãi dựa vào eo biển Hormuz và sản lượng dầu hỏa để “o ép” các nước nhập cảng dầu thô. Trọng tâm của bài này nhằm trình bầy nguồn cung “vàng đen” đang chuyển sang Tây Bán Cầu để bớt lệ thuộc vào vùng Vịnh. Chuyển biến này giúpđồng Mỹ kim vẫn giữ vai trò chính trong ngọai thương, khiến Băc Kinh mơ ước đưa đồng RMB lên ngôi bá chủ lâm vào tình thế “thử kêu bắn tịt”.

Cho dù, chiều 11 tháng 6, Tổng thống Trump đột ngột hủy bỏ ý định trước đó về chiến dịch không kích Iran nhằm “nắm quyền kiểm soát hoàn toàn” thị trường dầu khí của nước này cùng các cơ sở hạ tầng thiết yếu, bao gồm việc kiểm soát đảo Kharg nằm ngoài khơi Iran được xem là huyết mạch kinh tế của Iran và là nguồn xuất cảng dầu hỏa quan trọng nhất của quốc gia này.

Các phân tích quốc tế cho rằng, việc kiểm soát đảo Kharg qua một chiến dịch quân sự dù tạm ngưng, nhưng phía Mỹ và đồng minh vẫn theo đuổi mục tiêu không để Iran độc quyền kiểm soát eo biển Hormuz. Bởi vì nền kinh tế thế giới trong thế kỷ 21 không thể tiếp tục lệ thuộc vào một huyết mạch dầu hỏa có thể bị đe dọa bất cứ lúc nào.

Trong bàn cờ năng lượng toàn cầu, Iran từng nắm trong tay một “con át chủ bài” – eo biển Hormuz tưởng như bất khả thay thế. Đã nhiều phen chỉ cần Tehran “nhíu mày”, giá dầu thế giới đã nhảy múa. Hiện Iran đang theo đuổi cơ chế kiểm soát, áp phí tới 2 triệu Mỹ kim cho mỗi tầu dầu muốn qua eo biển Hormuz, một hành động vi pham tự do hàng hải quốc tế.

Các nước vùng Vịnh không muốn để Tehran thao túng eo biển Hormuz, nên đã âm thầm chuẩn bị “đường ra” từ nhiều năm trước. Họ xây đường ống xuyên sa mạc, mở cảng mới ngoài tầm ảnh hưởng của Hormuz, và chuyển dần dòng chảy dầu khí sang những đường ống an toàn hơn. Do vậy, Iran dù có cố dành quyền kiểm soát Hormuz, thì cũng chỉ như người giữ cửa một căn nhà mà mọi người đang âm thầm mở thêm lối đi ra vườn sau. Thời thế đang đổi thay nhanh đến độ những năm trước mặt Iran sẽ không còn dọa được ai nữa!

Do tình thế mới vừa dẫn, Bắc Kinh dù không phải là đồng minh của Whasington cũng đã chính thức xác nhận lập trường chung: Iran không được sở hữu vũ khí nguyên tử. Riêng về Eo biển Hormuz, Bắc Kinh tuyên bố phản đối quân sự hóa và phản đối việc thu phí tại tuyến hàng hải chiến lược này. [1]

Tình thế đã đến lúc, nếu Iran còn “nhì nhằng” theo đuổi chiến thuật “câu giờ” thì chỉ đẩy Mỹ nhanh hơn vào động thái ‘bấm nút” để triển khai chiến dịch không kích vừa tạm ngưng. Kết quả biến cố này nếu được thực hiện hiệu quả, sẽ giúp thế giới tiếp cận dễ dàng hơn nguồn cung dầu hỏa. Đồng thời, biến cố này cũng được ví như cuộc đột kích chớp nhóang của Mỹ đầu tháng Giêng bắt giữ Tổng thống Nicolás Maduro “mang lại kết quả tốt hơn, về dầu khí, cho cả Venezuela lẫn Hoa Kỳ”.

Cho dù chiến dịch quân sự mới của Mỹ không lập lại trên lãnh thổ Iran nữa, thì bản đồ vận tải dầu thô toàn cầu gần đây đã xuất hiện một xu hướng ngày càng nhiều tàu dầu đến “rót hàng” tại các cảng Tây Bán Cầu và hướng mũi về châu Á, thay thế dần các chuyến hàng truyền thống từ vùng Vịnh. Sự bùng nổ sản lượng dầu thô tại Mỹ, Brazil, Canada và đặc biệt là Guyana đã tạo ra một “nguồn cung” mới, đủ lớn để tái định hình các tuyến hàng hải. Các hãng vận tải quốc tế ghi nhận số chuyến tầu đi từ Đại Tây Dương sang Ấn Độ Dương tăng liên tục, trong khi nhiều nhà máy lọc dầu châu Á mới bước vào giai đoạn cải đổi cấu trúc để phù hợp với chất lượng dầu thô từ vùng châu Mỹ Latinh. Hiện nay, loại dầu nặng của Tây Bán Cầu chỉ có thể được tinh lọc hiệu quả ở những nhà máy lọc dầu hạng nặng mà… Mỹ lại sở hữu gần như toàn bộ. Nói cách khác, Mỹ không chỉ có dầu, mà còn có “chìa khóa” để biến dầu thành sản phẩm thương mại. Một lợi thế mà Trung cộng mơ ước chưa thể có. Đây không còn là biến động cục bộ, mà là một dịch chuyển có hệ thống, phản ánh sự nổi lên của Tây Bán Cầu như một trung tâm năng lượng mới.

Tỷ lệ sản lượng dầu cung cấp cho thế giới theo châu lục

Trong bối cảnh nguồn cung dầu thô đang dịch chuyển mạnh sang Tây Bán Cầu, tuyến hàng hải trên Thái Bình Dương được nhìn nhận như một trục hàng hải ngày càng quan trọng đối với châu Á. Khi nhiều tàu dầu xuất phát từ Mỹ, Brazil hay Guyana hướng về Đông Bắc Á, hành trình qua Thái Bình Dương trở thành lựa chọn tối ưu về thời gian và chi phí. Điều này đồng thời làm tăng đáng kể vai trò chiến lược của eo biển Malacca – cửa ngõ bắt buộc để vào Biển Đông và các trung tâm tiêu thụ lớn của khu vực mà 80% số dầu nhập cảng của Trung cộng phải đi qua.

Với mạng lưới hiện diện hải quân rộng khắp Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương và quan hệ an ninh chặt chẽ với Singapore, Nam Duong, Nhật Bản, Úc và Philippines, Mỹ có khả năng ảnh hưởng đáng kể đến an ninh và lưu thông tại Malacca. Trong bối cảnh mới, đây được xem là một trong những điểm then chốt của cấu trúc năng lượng và hàng hải khu vực.

Mọi quốc gia đều cần các mặt hàng thiết yếu để phát triển kinh tế. Thí dụ như dầu thô, máy bay dân dụng, trang bị quốc phòng hay sản phẩm y tế . . . đều phải mua bằng đồng Mỹ kim. Vì vậy, trong hơn một thập niên qua (2009), Bắc Kinh kiên trì theo đuổi mục tiêu đưa đồng Nhân dân tệ (RMB, short for Renminbi (人民币, Rénmínbì) trở thành đồng tiền quốc tế có sức nặng, thậm chí trong dài hạn có thể cạnh tranh vị trí thống trị của đồng Mỹ kim (USD).

Khối BRICS – gồm Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung cộng và Nam Phi – từ năm 2010 đã nuôi tham vọng “phi Đôla hóa” trong thương mại toàn cầu. Trung cộng luôn hăm hở với tham vọng: muốn giảm phụ thuộc vào hệ thống thanh toán SWIFT và tìm mọi dịp để đưa đồng Nhân Dân Tệ vào giao dịch quốc tế. Nhưng nỗ lực ấy giống như cố gắng đẩy một tảng đá lên đồi: nặng, trơn và dễ lăn ngược lại.

Năm 1971 Mỹ chấm dứt dùng vàng làm bản vị bảo chứng cho Mỹ kim. Mỹ kim trở thành tiền pháp định (fiat money). Tình thế lúc đó buộc Washington phải giữ vững được vị thế của đồng Mỹ kim trong hệ thống tài chính mới. Vai trò ngoại giao con thoi của Henry Kissinger được khai triển, mãi đến năm 1974 Mỹ mới đạt thỏa thuận chiến lược với Saudi Arabia: từ đây dầu mỏ của OPEC được định giá và giao dịch bằng Mỹ kim, đổi lại Mỹ bảo đảm an ninh cho Saudi Arabia. Từ thỏa thuận này, hệ thống petrodollar hình thành, biến đồng bạc Xanh thành đồng tiền bắt buộc để mua dầu và buộc các quốc gia phải dự trữ Mỹ kim. Nhu cầu toàn cầu giúp đồng bạc Xanh duy trì sức mạnh độc tôn lâu dài, dù trải qua nhiều giai đoạn biến động.

Lịch sử hiện đại chứng minh rằng:  nước nào tìm cánh soán ngôi “petrodollar” đều gặp kết cục “chẳng lành”:

  • Năm 2000 – Iraq: Saddam Hussein tuyên bố bán dầu bằng đồng Euro, ba năm sau, 2003 Iraq bị tấn công đưa dầu hỏa quay lại với “hộ chiếu” Đô La Mỹ.
  • Năm 2009 – Libya: Gaddafi đề xuất đồng Dinar vàng đến 2011 NATO can thiệp, “đao to búa lớn” của Gaddafi biến mất.

Dù Bắc Kinh có cố gắng đến mấy thì sức mạnh kinh tế của Trung cộng chưa đủ để biến đồng nhân dân tệ thành đồng tiền toàn cầu thực sự. Lịch sử chứng minh rằng, sự thống trị về tiền tệ không tự động theo sau một nền kinh tế vừa chỗi dậy. Hoa Kỳ đã vượt qua Vương quốc Anh về GDP ngay từ cuối thế kỷ XIX, nhưng Luân Đôn vẫn là trung tâm tài chính của thế giới. Phải đến thế kỷ XX, sau năm 1945, đồng Mỹ kim mới thực sự thay thế vị trí đó, nhờ những ảnh hưởng vượt trội về dự trữ vàng, công nghệ, quân sự, thể chế và văn hóa.

Trung cộng, dù đã trở thành siêu cường sản xuất và có tốc độ tăng trưởng trong nhiều năm, nhưng vẫn chưa có một mạng lưới liên minh được tổ chức chặt chẽ, cũng như một hệ thống tài chính đủ mức mở cửa và đáng tin cậy để bảo đảm khả năng thanh toán và niềm tin cần thiết trong vai trò đồng tiền dự trữ toàn cầu.

Ngân sách quân sự của Trung cộng vẫn chỉ bằng một phần ba của Hoa Kỳ, và sự hiện diện địa chính trị đang bị “co lại” như gần đây ở Tây Bán Cầu, với chỉ hai căn cứ quân sự ở nước ngoài (so với hàng trăm căn cứ của Mỹ). Trong khi đó, Hoa Kỳ sở hữu một nền tảng chiến lược vững chắc, thông qua các liên minh như NATO, AUKUS và QUAD, đồng thời có khả năng chuyển giao chi phí của sức mạnh địa chính trị ra toàn cầu nhờ việc quốc tế hóa đồng Mỹ kim.

Tóm lại, cho tới nay khả năng đồng nhân dân tệ có thể thay thế được đồng Mỹ kim và trở thành đồng tiền quốc tế vẫn còn khá xa vời, nhưng nó hoàn toàn có thể trở thành một trong những trụ cột chính của một hệ thống tiền tệ toàn cầu phân mảnh hơn trong tương lai, nơi nhiều đồng tiền chủ chốt có thể cùng tồn tại song song. [2]

Xem ra giữa mục tiêu và khả năng thực tế vẫn tồn tại một khoảng cách lớn. Nền kinh tế Trung cộng đang đối mặt nhiều thách thức nội tại, trong khi mô hình quản trị của Bắc Kinh bị xem là thiếu minh bạch, khó tạo niềm tin cho các thị trường tài chính toàn cầu. Đồng thời, Mỹ đang từng bước củng cố lại ảnh hưởng tại Tây Bán Cầu và vùng Vịnh – hai khu vực có ý nghĩa chiến lược đối với trật tự năng lượng và tài chính thế giới. Tất cả những yếu tố này khiến con đường “quốc tế hóa Nhân dân tệ” trở nên phức tạp hơn nhiều so với kỳ vọng của Bắc Kinh.

Trần nguyên Thao

[1] https://www.aljazeera.com/news/2026/5/14/trump-xi-discuss-strait-of-hormuz-as-chinese-vessels-transit-key-waterway

[2] https://asialyst.com/fr/2025/05/22/yuan-peut-il-remplacer-dollar-2050/