Tin Hoa Kỳ & Tin Thế Giới

Flávio Bolsonaro Đã Rời Brazil Sang Mỹ

Một nguồn tin thân cận với gia đình cho biết Nghị sĩ Brazil Flávio Bolsonaro đã rời đất nước để đến Hoa Kỳ, sau thất bại trong cuộc bầu cử tổng thống.

ông Flasvio Bolsonaro

“Đúng là như vậy”, một nguồn tin thân cận với Eduardo Bolsonaro, em trai của ông Flávio, cho biết trong một tin nhắn, qua đó xác nhận thông tin từng được hãng tin Reuters đăng tải trước đó.

Những đồn đoán về nơi ở của Nghị sĩ Flávio Bolsonaro đã rộ, sau khi tờ Infobae của Argentina đưa tin rằng ông đã đi chuyên cơ đến Argentina với kế hoạch tiếp tục di chuyển sang Hoa Kỳ. Tuy nhiên, các viên chức và những người thân cận đã bác bỏ mạnh mẽ thông tin này.

Nghị sĩ Rogério Marinho, người quản lý chiến dịch tranh cử và là đồng minh thân cận của ông Flávio, đã phủ nhận thông tin trên; trong khi đó, giới chức Argentina cũng khẳng định vị nghị sĩ này không hề nhập cảnh vào nước họ.

Trong khi đó, Cảnh sát Liên bang Brazil đã tiến hành kiểm tra tại các cửa khẩu biên giới. Trước đó, hai nhà báo người Brazil cho biết tên của Flávio Bolsonaro không xuất hiện trong hồ sơ hải quan hoặc tài liệu tại biên giới.

Trước đây, ông Flávio Bolsonaro từng công khai tuyên bố rằng ông không có ý định rời khỏi Brazil.


Lula Bắc Cử Trong Nhiệm Kỳ Thứ Tư, Brazil Gặp Sự Chia Rẽ Chính Trị

Tổng thống đương nhiệm Brazil, ông Luiz Inácio “Lula” da Silva, đã tái đắc cử vào ngày 26 tháng 10, đánh dấu nhiệm kỳ thứ tư (không liên tiếp) chưa từng có trong lịch sử nước này.

Trước đó, ông Lula từng lãnh đạo đất nước từ năm 2003 đến 2011, sau đó tái đắc cử vào năm 2023. Với chiến thắng lần này, ông tiếp tục khẳng định vị thế là gương mặt đại diện cho nền chính trị tiến bộ tại Brazil, sau khi giành được 51,79% số phiếu bầu trước đối thủ Flávio Bolsonaro – con trai của cựu Tổng thống Jair Bolsonaro.

Lulu thắng cử nhiệm kỳ thứ tư (photo: WSJ)

Bản thân ông Jair Bolsonaro đã bị bắt giữ và không thể tham gia tranh cử. Vào ngày 11 tháng 9 năm 2025, ông bị kết án vì âm mưu đảo chính – một vụ việc mà những người ủng hộ ông cho là hành vi đàn áp chính trị, đồng thời cũng bị cựu Tổng thống Mỹ Donald Trump chỉ trích. Một số chuyên gia pháp lý cùng một thẩm phán Tối Cao Pháp Viện Brazil (trong ý kiến ​​bất đồng) cho rằng quy trình xét xử này thiếu sự công bằng, chiếu theo thủ tục pháp luật.

Phe của ông Lula cho rằng việc đánh bại gia đình Bolsonaro tại tòa án và trên lá phiếu chính là nỗ lực nhằm “cứu vãn nền dân chủ” và bảo vệ các quyền căn bản trước “chủ nghĩa phát xít”. Lập luận này đã giúp ông Lula thu hút thêm khoảng 11 triệu phiếu bầu trong vòng bỏ phiếu thứ hai so với vòng đầu tiên, qua đó lội ngược dòng để giành chiến thắng chung cuộc.

Bối cảnh chính trị hiện nay đang trở nên vô cùng phân cực, khi các cuộc bầu cử tại Brazil mang tính chất sống còn.

Giờ đây, ông Lula có quyền đề cử thêm bốn thẩm phán vào Tối Cao Pháp Viện, qua đó nắm giữ thế đa số áp đảo. Đất nước này đang phải đối mặt với tình trạng nợ công gia tăng cùng lãi suất ở mức hai con số; vấn nạn tội phạm bạo lực vẫn là một mối lo ngại trầm trọng. Bên cạnh đó, quan hệ Mỹ – Brazil đang rơi xuống mức thấp nhất từ ​​trước đến nay, sau khi ông Lula từ chối công nhận hai băng nhóm tội phạm là “tổ chức khủng bố nước ngoài” theo định nghĩa của Mỹ, đồng thời phá vỡ xu hướng hợp tác khu vực dưới sự dẫn dắt của Washington.

Với nhiều vấn đề hệ trọng đang đặt lên bàn cân, ông Lula sẽ phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng thể chế trong thời gian tới. Ngay 24 giờ đầu tiên sau khi kết quả bầu cử được công bố đã cho thấy rõ điều đó.

Trong bài phát biểu đầu tiên sau khi kết quả được công bố, ông Lula đã nêu rõ việc áp đặt các quy định nghiêm ngặt hơn đối với mạng xã hội là một trong những ưu tiên hàng đầu. Mâu thuẫn của ông với các tập đoàn kỹ nghệ lớn đang trở thành tâm điểm chú ý, khi nhiều người lo ngại rằng điều này có thể hạn chế quyền tự do ngôn luận.

Phe chính trị của ông Lula đã đứng về phía Tối Cao Pháp Viện trong các quyết định như chặn nền tảng X tại Brazil vào năm 2024, cũng như kiểm duyệt một số bài đăng và trương mục cá nhân. Phía mạng xã hội X cho rằng hành động này thiếu quy trình pháp lý và vi phạm luật pháp Brazil.

Vào ngày 27 tháng 10, thị trường chứng khoán trong nước mở cửa với mức sụt giảm hơn 17%. Các cơ quan quản lý đã phải tạm dừng mọi giao dịch trong một giờ để kiềm chế sự biến động từ làn sóng “bán tháo trong hoảng loạn” – đợt sụt giảm tồi tệ nhất kể từ đại dịch COVID-19. Trong khi đó, đồng đô la Mỹ tăng khoảng 10,5% so với đồng real của Brazil, trong bối cảnh dòng vốn tháo chạy khỏi quốc gia này.

Sau khi thừa nhận thất bại trong cuộc bầu cử, ông Flávio Bolsonaro đã bị yêu cầu nộp lại sổ thông hành cho cơ viên chức năng nhằm ngăn chặn khả năng ông rời khỏi Brazil.

Hành động này nằm trong khuôn khổ các cuộc điều tra về hành vi rửa tiền có liên quan đến một người bạn của Flávio. Lệnh này được đưa ra bởi thẩm phán gây tranh cãi của Tối Cao Pháp Viện, Alexandre de Moraes – chính là vị thẩm phán từng dẫn đầu các vụ truy tố nhắm vào cha của ông, và là người bị cáo buộc đã biến hệ thống tư pháp thành công cụ chính trị cùng với đảng của ông Lula.

Trước đó, Hoa Kỳ từng áp đặt lệnh trừng phạt đối với thẩm phán Moraes vì ​​các hành vi vi phạm nhân quyền theo Đạo luật Magnitsky Toàn cầu (Global Magnitsky Act). Sau quá trình đàm phán ngoại giao căng thẳng giữa Washington và Brasília, các lệnh trừng phạt này đã được dỡ bỏ vào tháng 12 năm 2025.

Ban đầu, Flávio Bolsonaro đã phản đối kết quả bầu cử và tuyên bố sẽ tìm cách hủy bỏ cuộc bầu cử, mặc dù đảng của ông sau đó đã chấp nhận kết quả. Ông cũng cho biết sẽ khởi kiện chiến dịch tranh cử của ông Lula ra tòa.

Khiếu nại của ông tập trung vào việc gia hạn thời gian bỏ phiếu thêm hai tiếng đồng hồ trên toàn quốc – một quyết định được cho là thiếu công bằng.

Dù cả hai phe tranh cử đều từng yêu cầu gia hạn thời gian, nhưng lệnh từ tòa án chỉ được đưa ra đúng vào thời điểm cuộc bỏ phiếu dự định ​​kết thúc; khi đó, nhiều điểm bỏ phiếu đã đóng cửa và không thể mở lại. Dù sự việc này không gây ảnh hưởng đáng kể – vì chỉ một phần rất nhỏ số phiếu được ghi nhận trong khoảng thời gian gia hạn đó – nhưng nó đã khiến các cơ viên chức năng phải đối mặt với sự chỉ trích rằng, quyết định không kịp thời và tổ chức yếu kém.

Những diễn biến hậu bầu cử này diễn ra trong bối cảnh niềm tin vào các thể chế đang sụt giảm trầm trọng. Một cuộc thăm dò vào tháng 9 cho thấy mức độ thiếu tin tưởng đối với Tối Cao Pháp Viện đã lên đến đỉnh điểm, với 48% người được hỏi bày tỏ sự e ngại đối với cơ quan này. Cũng trong tháng 9, một cuộc thăm dò khác cho thấy 58% người dân đặt niềm tin vào Cảnh sát Liên bang – lực lượng tương đương với FBI tại Brazil.

Trong bối cảnh đó, ông Lula đã vấp phải sự chỉ trích vì ngày càng dựa nhiều vào Tối Cao Pháp Viện để vượt qua Quốc hội, từ đó duy trì khả năng điều hành đất nước. Dù không nắm thế đa số tại cả hai viện trong nhiệm kỳ trước, thì ở nhiệm kỳ sắp tới, vị thế của ông Lula thậm chí còn trở nên cô lập hơn.

Mặc dù phe cánh hữu tại Brazil thất bại trong cuộc bầu cử tổng thống, các đảng bảo thủ lại đạt được những bước tiến đáng kể tại Quốc hội. Khoảng 64% thành viên Thượng Viện khóa mới và 59% thành viên Hạ Viện vừa đắc cử đều có tư tưởng nghiêng về cánh hữu.

Đảng Tự do của ông Bolsonaro đã trở thành lực lượng có số ghế lớn nhất tại cả hai viện, với 28 ghế tại Thượng Viện và 121 ghế tại Hạ Viện. Để bảo đảm thế đa số trong hoạt động lập pháp, ông Lula sẽ cần phải đàm phán với các đảng trung dung.


Y Tế Ban Hành Hướng Dẫn Mới Về Nguyên Nhân Gây Tử Vong Ở Phụ Nữ

Bốn tổ chức y tế vừa đưa ra phương pháp tiếp cận mới nhằm ngăn ngừa bệnh tim mạch – nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở phụ nữ.

Trong bản hướng dẫn, Hiệp Hội Tim Mạch Hoa Kỳ (American Heart Association) cùng ba tổ chức khác khuyến nghị nên bắt đầu đánh giá sức khỏe tim mạch cho các bé gái từ khoảng 8 tuổi. Quá trình đánh giá cần tính đến những thay đổi mà phụ nữ trải qua trong từng giai đoạn của cuộc đời.

Theo Hiệp Hội Tim Mạch Hoa Kỳ, bệnh tim mạch (bao gồm các bệnh về tim và đột quỵ) là nguyên nhân cướp đi sinh mạng của hơn 400.000 phụ nữ tại Hoa Kỳ mỗi năm. Con số này cao hơn tổng số ca tử vong do ung thư vú, ung thư phổi và các bệnh phổi mãn tính cộng lại.

Các tổ chức này cho biết, việc đánh giá cần xem xét các yếu tố nguy cơ gây bệnh tim mạch, bao gồm: huyết áp cao; các tình trạng tim mạch cụ thể (như bệnh van tim); các hành vi sức khỏe (như giấc ngủ và mức độ hoạt động thể chất); cùng những yếu tố sức khỏe khác như nồng độ đường trong máu và các vấn đề liên quan đến chu kỳ kinh nguyệt.

Đối với các bé gái từ khoảng 8 đến 15 tuổi, quy trình đánh giá có thể bao gồm: xét nghiệm lipid (các hợp chất béo), kiểm tra chỉ số khối cơ thể (BMI) và huyết áp hàng năm, cũng như theo dõi nồng độ đường huyết. Các tổ chức nhấn mạnh rằng cần giúp các bé gái hiểu rõ về hồ sơ nguy cơ tim mạch của bản thân khi các em lớn lên.

Đối với phụ nữ trong độ tuổi từ khoảng 15 đến 44 – nhóm đối tượng có chu kỳ rụng trứng và nội tiết tố ổn định – việc sàng lọc nên bao gồm các tiêu chí liên quan đến sức khỏe tim mạch do Hiệp Hội thiết lập, chẳng hạn như duy trì giấc ngủ lành mạnh, bảo đảm mức lipid an toàn và tránh sử dụng nicotine.

Các tổ chức này khuyến nghị sử dụng phương trình dự báo nguy cơ trong 10 năm đối với phụ nữ từ 30 đến 79 tuổi; riêng phụ nữ trong độ tuổi từ 30 đến 59 nên được đánh giá cả nguy cơ trong 10 năm và 30 năm. Một trong các tài liệu hướng dẫn ghi rằng, “Việc ước tính nguy cơ trong 30 năm và các phân vị nguy cơ đặc biệt hữu ích đối với những phụ nữ có thể có nguy cơ thấp trong ngắn hạn nhưng lại có nguy cơ cao trong dài hạn. Nếu không đưa đánh giá nguy cơ trong 30 năm vào quy trình, những phụ nữ này có thể bị đánh giá sai là không có nguy cơ”.

Đối với phụ nữ từ khoảng 45 tuổi trở lên, cần thực hiện đánh giá dựa trên các yếu tố tương tự. Các đánh giá này cũng cần tính đến việc giai đoạn chuyển sang mãn kinh có thể đi kèm với sự gia tăng nhanh chóng nguy cơ mắc bệnh tim mạch. Tài liệu cũng viết rằng, “do những thay đổi về chuyển hóa và mạch máu bắt nguồn từ quá trình lão hóa buồng trứng cùng những thay đổi nội tiết tố đi kèm—bao gồm sự sụt giảm dần nồng độ estradiol—cộng với quá trình lão hóa theo thời gian”.

Tiến sĩ Mariell Jessup, Giám đốc Khoa học và Y tế của Hiệp Hội Tim mạch Hoa Kỳ (American Heart Association), cho biết trong một tuyên bố, “Phụ nữ chiếm hơn một nửa dân số, và sức khỏe tim mạch của họ phải là một phần trong công tác chăm sóc y tế thường nhật. Các ấn phẩm này cung cấp cho các bác sĩ lâm sàng và hệ thống y tế một nền tảng chung để nhận diện các nguy cơ trong suốt cuộc đời của người phụ nữ”.

Theo bốn tổ chức—Hiệp Hội Tim Mạch Hoa Kỳ, Viện Hàn Lâm Nhi Khoa Hoa Kỳ, Trường Cao Đẳng Sản Phụ Khoa Hoa Kỳ và Hiệp Hội Y Học Bà Mẹ – Thai Nhi—cách tiếp cận mới dựa trên khung giai đoạn cuộc đời này là vô cùng cần thiết, trong bối cảnh tiến độ ngăn ngừa tử vong do bệnh tim mạch ở phụ nữ đã bị chững lại trong suốt 20 năm qua.

Tiến sĩ Sadiya S. Khan, người tham gia soạn thảo hướng dẫn này và hiện là Giáo sư Dịch Tễ Học Tim Mạch (giữ chức danh Magerstadt Professor) tại Trường Y Feinberg thuộc Đại học Northwestern ở Chicago, chia sẻ trong một tuyên bố, “Phụ nữ tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe thông qua nhiều chuyên khoa lâm sàng khác nhau, nhưng quy trình này thường bị phân mảnh hoặc thiếu sự kết nối”.

“Cụ thể, các báo cáo này giúp kết nối các khía cạnh khác nhau—cho bác sĩ lâm sàng, bệnh nhân và giữa các lãnh vực y tế—nhằm bảo đảm quá trình chăm sóc mang tính toàn diện, bắt đầu ngay từ tuổi thiếu niên. Hướng dẫn này cũng thừa nhận rằng sức khỏe tim mạch của phụ nữ chịu ảnh hưởng đặc thù từ các giai đoạn chuyển đổi sinh học mà nam giới không trải qua, bao gồm: chu kỳ kinh nguyệt, mang thai, giai đoạn mãn kinh”.

Các tổ chức này cho biết, hướng dẫn trên áp dụng cho các bé gái và phụ nữ, nhưng không đề cập đến việc chăm sóc cho bệnh nhân chuyển giới.


Phần Lan Và Na Uy Đã Có Cuộc Điện Đàm Với Ông Putin

Các nhà lãnh đạo Phần Lan và Na Uy đã trao đổi với Tổng thống Nga Vladimir Putin. Hành động này khác biệt với lập trường của đa số các quốc gia châu Âu – vốn chọn cách tránh tiếp xúc trực tiếp với Điện Kremlin trong bối cảnh cuộc chiến tại Ukraine vẫn đang tiếp diễn.

Theo một tuyên bố chung, Tổng thống Phần Lan Alexander Stubb và Thủ tướng Na Uy Jonas Gahr Støre đã chủ động liên lạc với ông Putin để thảo luận về các cuộc đàm phán trong tương lai nhằm chấm dứt chiến tranh. Tuyên bố cũng cho biết cuộc trao đổi này có liên quan đến các cuộc họp ba bên sắp tới giữa đại diện từ Nga, Ukraine và Hoa Kỳ tại Abu Dhabi vào tháng tới.

Ông Stubb và ông Støre khẳng định họ phát biểu với tư cách là lãnh đạo quốc gia của mình, chứ không đại diện cho “toàn thể châu Âu”.

Ông Stubb cho biết: “Cuộc thảo luận diễn ra thẳng thắn và thực chất. Chúng tôi là những quốc gia láng giềng của Nga. Kết cục của cuộc chiến này sẽ tác động trực tiếp đến an ninh của chúng tôi cũng như an ninh chung của châu Âu. Việc chấm dứt chiến tranh đòi hỏi phải có các cuộc thảo luận trực tiếp”.

Ông Støre chia sẻ: “Cuộc chiến gây ra những tổn thất to lớn về con người và vật chất. Những đau khổ và sự tàn phá này sẽ còn ảnh hưởng đến nhiều thế hệ. Trong cuộc điện đàm, chúng tôi đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giảm leo thang sự căng thẳng”.

Cả hai nhà lãnh đạo hiện đang có mặt tại Helsinki để tham dự cuộc họp của Hội Đồng Bắc Âu – một tổ chức quốc tế bao gồm đại diện từ năm quốc gia Bắc Âu là Phần Lan, Na Uy, Thụy Điển, Đan Mạch và Iceland, cùng các thành viên từ vùng tự trị Åland (Phần Lan), Greenland và quần đảo Faroe (Đan Mạch).

Theo một tuyên bố được Bộ Ngoại Giao Nga đăng tải trên Telegram, phía Nga xác nhận cuộc trao đổi ba bên đã diễn ra. Các bên đã “trao đổi quan điểm về việc giải quyết cuộc khủng hoảng Ukraine, dựa trên các cuộc thảo luận giữa ông Putin với đặc phái viên của Tổng thống Hoa Kỳ, Steve Witkoff, tại St. Petersburg vào ngày 21 tháng 10, cũng như các cuộc tiếp xúc của ông Stubb và ông Støre với ông Witkoff và Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelenskyy tại Oslo”.

Bộ này cũng cho biết họ đã “nhấn mạnh rằng việc đạt được một nền hòa bình công bằng, lâu dài chỉ có thể thực hiện được khi xem xét đầy đủ và vô điều kiện các lợi ích chính đáng của Liên bang Nga. Đồng thời cũng lưu ý tới các chính sách đối đầu của các quốc gia EU và NATO”.

Theo hãng thông tấn nhà nước Nga TASS, Ngoại trưởng Nga Sergey Lavrov sau đó cho biết, mặc dù ông chưa xem bản ghi chép cuộc trò chuyện giữa Stubb, Støre và Putin, nhưng “không có ý tưởng mới nào được đưa ra” trong cuộc thảo luận này.

Ông nói thêm: “Điều này chỉ cho thấy tham vọng của người châu Âu trong việc chen chân vào tiến trình đàm phán”, đồng thời khẳng định rằng Moscow vẫn chưa thấy bất cứ thay đổi nào trong cách tiếp cận của các nhà lãnh đạo châu Âu.

Cùng ngày các nhà lãnh đạo Bắc Âu trao đổi với ông Putin, họ cũng đã có một cuộc gọi chung với ông Zelenskyy để thảo luận về cuộc trò chuyện với Tổng thống Nga.

Stubb và Støre đã xác nhận cuộc gọi với nhà lãnh đạo Ukraine thông qua các tuyên bố có nội dung tương tự trên nền tảng X, được đăng tải cách nhau chỉ vài phút.

Trong một bài đăng trên X, ông Zelenskyy bày tỏ lòng biết ơn đối với Stubb và Støre vì đã “cung cấp thông tin chi tiết và tích cực ủng hộ” các nỗ lực ngoại giao và hòa bình.

Ông cho biết: “Alex và Jonas đã nói rõ với nhà lãnh đạo Nga rằng cần phải có những bước đi thực chất để giảm leo thang căng thẳng liên quan đến cơ sở hạ tầng và năng lượng của chúng tôi”. Ông nói thêm rằng họ cũng đã thảo luận về công tác chuẩn bị cho cuộc họp giữa Nga, Ukraine và Mỹ sẽ diễn ra vào tháng tới tại Abu Dhabi.

Thủ tướng Đan Mạch Mette Frederiksen, cũng có mặt tại thủ đô của Phần Lan để tham dự cuộc họp của Hội đồng Bắc Âu, đã chỉ trích những người đồng cấp phía Phần Lan và Na Uy vì đã trực tiếp trao đổi với ông Putin.

Bà phát biểu với đài truyền hình TV 2 của Đan Mạch, “Tôi rất hoài nghi về sáng kiến ​​này của Na Uy và Phần Lan. Nó không hề được phối hợp với các quốc gia còn lại trong nhóm chúng tôi”.

Bà Frederiksen nói thêm rằng bà “không thấy bất cứ dấu hiệu nào cho thấy Nga mong muốn hòa bình với châu Âu, dù là xét đến cuộc chiến hỗn hợp đang diễn ra hàng ngày, hay xét đến vấn đề Ukraine”.

Thủ tướng Thụy Điển Ulf Kristersson cũng bày tỏ sự thận trọng tương tự đối với hành động từ phía Na Uy và Phần Lan.

Ông Kristersson cho biết, “Theo cảm nhận của tôi, ai cũng muốn hòa bình, ngoại trừ ông Putin. Tôi không đặt nhiều kỳ vọng vào những cuộc đối thoại kiểu này”.


Bộ Trưởng Ấn Độ Khẳng Định Mỹ Không Gây Áp Lực

Bộ trưởng Dầu mỏ và Khí đốt tự nhiên Ấn Độ, ông Hardeep Singh Puri, cho biết New Delhi không chịu bất cứ áp lực nào từ Washington trong việc hạn chế nhập cảng dầu thô từ Nga.

Theo tờ India Today, phát biểu tại một sự kiện của ngành dầu khí ở thủ đô New Delhi hôm thứ Ba, ông Puri khẳng định không có áp lực nào buộc Ấn Độ phải giảm sự phụ thuộc vào Nga đối với nguồn năng lượng thiết yếu này.

Tuyên bố của ông được đưa ra trong bối cảnh Ấn Độ đang tái cơ cấu nguồn cung dầu thô; các nhà máy lọc dầu tại đây đang tăng cường mua dầu từ Trung Đông và giảm bớt lượng nhập cảng từ Nga.

Theo dữ kiện từ dịch vụ theo dõi tàu biển Kpler được trang tin Energy Watch của Ấn Độ dẫn lại hôm 28/9, lượng dầu thô Nga nhập cảng vào New Delhi trong tháng 9 đã giảm xuống mức thấp nhất kể từ tháng 4. Trong khi đó, nguồn cung dầu thô từ Trung Đông đã quay trở lại mức ghi nhận trước khi căng thẳng Mỹ – Iran bùng phát.

Ông Puri cho biết, việc nhập cảng dầu thô từ các khu vực khác nhau phụ thuộc vào khả năng cung ứng và giá cả. Nguồn cung từ Trung Đông tăng lên do các nhà sản xuất tại khu vực này có khả năng đẩy mạnh xuất cảng.

Ông cho biết thêm, trước khi cuộc xung đột tại Ukraine nổ ra, Ấn Độ chỉ nhập cảng 0,2% lượng dầu từ Nga. Tuy nhiên, con số này đã tăng vọt sau khi xung đột bắt đầu, nhờ vào các mức chiết khấu hấp dẫn đối với dầu Nga.

Bộ trưởng Puri giải thích rằng quyết định mua dầu từ Nga gắn liền với các ưu đãi về giá so với các nhà cung cấp khác. Dù vậy, lượng nhập cảng từ Nga đã giảm bớt khi các nhà máy lọc dầu chuyển sang mua nhiều hơn các loại dầu từ vùng Vịnh vốn cũng đang có mức chiết khấu tốt.

Theo báo cáo năm 2023 của Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA), Ấn Độ là một trong những quốc gia mua dầu thô Nga lớn nhất thế giới, với khối lượng nhập cảng dầu thô và condensate đạt 4,5 triệu thùng mỗi ngày trong năm 2023 – đưa Ấn Độ trở thành quốc gia nhập cảng ròng lớn thứ hai thế giới. Trong đó, dầu từ Nga chiếm khoảng 39% tổng lượng nhập cảng.

Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn là quốc gia mua dầu Nga nhiều nhất thế giới. Việc nhập cảng dầu từ Nga là một chủ đề được thảo luận giữa Ngoại trưởng Hoa Kỳ Marco Rubio và Bộ trưởng Ngoại Giao Ấn Độ Subrahmanyam Jaishankar trong cuộc gặp đầu tháng này, trong bối cảnh hai quốc gia đang nỗ lực hoàn tất một thỏa thuận thương mại.

Trước chuyến thăm Ấn Độ, ông Rubio cho biết quyết định ngày 16 tháng 10 của Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump về việc miễn trừ các biện pháp trừng phạt đối với những quốc gia mua dầu từ Nga một phần xuất phát từ nỗ lực thúc đẩy thỏa thuận thương mại giữa Hoa Kỳ và Ấn Độ.

Các biện pháp trừng phạt và thuế quan liên quan đến Nga – vốn được khởi xướng bởi Nghị sĩ khi đó là Lindsey Graham (đảng Cộng hòa, tiểu bang South Carolina) – bao gồm các hình phạt nhắm vào năm quốc gia mua dầu và khí đốt lớn nhất của Nga. Đạo luật này cho phép áp thuế lên tới 100% đối với hàng hóa từ các quốc gia đó và lên tới 500% đối với hàng hóa nhập cảng từ Nga.

Quyết định miễn trừ này không có thời hạn kết thúc cố định. Nó vẫn sẽ có hiệu lực cho đến khi Tổng thống Trump hoặc Ngoại trưởng Hoa Kỳ quyết định rằng cần có các hành động tiếp theo.

Ngoại trưởng Rubio phát biểu vào ngày 18 tháng 10, “Tôi nghĩ Tổng thống muốn dành khoảng thời gian 60 ngày để phân tích xem việc áp đặt cả các biện pháp trừng phạt lẫn thuế quan sẽ tác động như thế nào đến nền kinh tế toàn cầu, cũng như nền kinh tế Hoa Kỳ”.

Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi đã tiếp đón Tổng thống Nga Vladimir Putin trong chuyến thăm vào tháng 12 năm ngoái; tại đây, hai nhà lãnh đạo đã kỷ niệm 25 năm thiết lập quan hệ đối tác chiến lược chính thức giữa hai quốc gia.


Bộ Tư Pháp Tìm Thấy Hơn 400 Trường Hợp Gian Lận Bầu Cử Ở Washington

Bộ Tư Pháp Mỹ (DOJ) đã yêu cầu bang Washington tách riêng các lá phiếu của hơn 400 cử tri đã đăng ký mà chính quyền liên bang nghi ngờ không phải là công dân Mỹ.

Trong một tuyên bố, Bộ Tư Pháp cho biết họ đã cung cấp cho bang này danh sách các cử tri bị nghi ngờ không phải là công dân hoặc chỉ là người có thẻ xanh (thường trú nhân). Những người không phải là công dân Mỹ bị cấm tham gia bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử tại Hoa Kỳ, bất kể tình trạng nhập cư hợp pháp của họ ra sao.

Quyền Công tố viên Hoa Kỳ Neil Floyd cho biết: “Chúng tôi đã xác định được hơn 400 trường hợp không phải là công dân Mỹ nhưng đã đăng ký cử tri và từng tham gia bỏ phiếu trong nhiều cuộc bầu cử. Đây mới chỉ là phần nổi của tảng băng chìm”.

“Chúng tôi sẽ tiếp tục điều tra và xác định những cá nhân phạm tội thông qua việc bỏ phiếu bất hợp pháp”.

Đáp lại, Bộ trưởng Hành chính bang Washington (Secretary of State), ông Steve Hobbs, cho biết văn phòng của ông sẽ xem xét kỹ lưỡng thư từ Bộ Tư Pháp liên quan đến các cá nhân có tên trong danh sách cử tri của bang.

Ông Hobbs tuyên bố: “Chúng tôi coi trọng trách nhiệm bảo vệ thông tin cử tri và sẽ chỉ phản hồi các yêu cầu tuân thủ đúng quy trình pháp lý. Chúng tôi đã chứng kiến ​​những gì xảy ra tại California và không muốn người dân Washington phải chịu sự quấy nhiễu”.

Theo văn phòng của ông Hobbs, các trường hợp người không phải công dân tham gia bỏ phiếu là rất hiếm. Trong mỗi cuộc bầu cử, cử tri đều phải xác nhận tư cách hợp lệ của mình bằng cách ký vào bản tuyên bố trên phong bì gửi phiếu bầu. Văn phòng này cũng lưu ý rằng hệ thống của Bộ Tư Pháp có thể xác định nhầm những công dân Mỹ hợp pháp thành người không phải công dân.

Ông Hobbs nhận định: “Thời điểm đưa ra yêu cầu này — chỉ một tuần trước cuộc Tổng tuyển cử — rõ ràng nhằm mục đích gieo rắc sự nghi ngờ vô căn cứ đối với kết quả bầu cử”.

Bộ Tư Pháp cho biết họ đã thông báo cho ông Hobbs từ tháng 7 rằng họ đang kiểm tra hồ sơ để xác định xem có người không phải công dân nào đăng ký bỏ phiếu tại Washington hay không. Vào ngày 26 tháng 10, Bộ này thông báo sẽ cung cấp cho bang danh sách các cá nhân bị nghi ngờ đăng ký cử tri bất hợp pháp, đồng thời yêu cầu bang tách riêng các lá phiếu gửi qua thư của những người này cho đến khi tình trạng công dân của họ được xác minh. Bộ Tư Pháp cho biết tiểu bang Washington có trách nhiệm ngăn chặn những người không phải là công dân bỏ phiếu bất hợp pháp, đồng thời khẳng định sẵn sàng phối hợp với tiểu bang này để giải quyết vấn đề.

Trong một tuyên bố, ông Pete Serrano, Trợ lý Công tố viên Hoa Kỳ cấp cao tại Quận phía Đông Washington, cho biết: “Mục đích của chúng tôi khi chia sẻ dữ kiện này với tiểu bang là nhằm bảo vệ tính thiêng liêng trong lá phiếu của mỗi công dân”.

Trước đó trong tháng này, Bộ Tư Pháp đã khởi kiện tiểu bang California nhằm ngăn chặn việc kiểm đếm 20.000 lá phiếu gửi qua thư của những người bị nghi ngờ không phải là công dân Hoa Kỳ. Ngày 22 tháng 10, Bộ Tư Pháp đã nộp đơn kháng cáo sau khi Thẩm phán David Carter thuộc Tòa án Quận Hoa Kỳ tại Quận Trung tâm California không đưa ra phán quyết về yêu cầu khẩn cấp xin lệnh ngăn chặn trước thời hạn được đề ra.

Tòa Phúc thẩm Hoa Kỳ Khu vực 9 đã bác bỏ đơn kháng cáo này với lý do thiếu thẩm quyền, vì tòa án cấp quận vẫn chưa đưa ra phán quyết chính thức.

Ngày 16 tháng 10, Quyền Phó Tổng Chưởng lý Trent McCotter đã gửi thư tới văn phòng Cố vấn pháp lý Quận Los Angeles, cảnh báo rằng các viên chức quận có thể đối mặt với nguy cơ “trở thành đồng phạm hoặc người tiếp tay cho một tội danh liên bang” nếu họ cố tình kiểm đếm các lá phiếu từ những cá nhân đã được các cơ quan liên bang xác định là không phải công dân Hoa Kỳ.

Ông McCotter viết: “Hậu quả pháp lý đối với hành vi tạo điều kiện hoặc phớt lờ một tội danh liên bang là rất trầm trọng. Việc những người không phải là công dân bỏ phiếu trong một cuộc bầu cử liên bang là một tội danh liên bang—và hành vi cố tình tạo điều kiện cho việc này cũng là hành vi vi phạm pháp luật”.

Phản hồi lại bức thư trên, ông Dean Logan, viên chức phụ trách đăng ký cử tri và lưu trữ hồ sơ tại Quận Los Angeles, cho biết văn phòng của ông đang tập trung vào việc tổ chức một cuộc bầu cử công bằng và an toàn.