Từ khi đổi mới năm 1986, nền kinh tế Việt Nam ngày càng phụ thuộc vào vốn FDI – chiếm tỷ trọng rất lớn trong GDP. Nguồn lợi xuất cảng chính lại trông vào thị trường Mỹ. Nguyên liệu chế xuất thì dựa nhiều vào Trung cộng. Mô hình chế xuất đặt trên “đôi chân người ngoài” khiến dân Việt chỉ với ước mơ “cơm no, áo ấm” đành chịu cảnh vật vã mưu sinh: “hai tay vày lỗ miệng”!

Đã 39 năm qua, bức tranh chế xuất của Việt Nam ngày càng hiện rõ sự phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập cảng, đặc biệt từ Trung cộng và Đại Hàn. Ngành dệt may – vốn là thế mạnh lâu đời của Ba-Đình – phải nhập tới 60% sợi, vải polyester và các loại phụ kiện như cúc và khóa kéo nhập cảng từ nước láng giềng phương Bắc. Còn lĩnh vực điện tử, được “điểm tô” là bứt phá mạnh mẽ, vẫn lệ thuộc ít nhất 30% linh kiện từ nước khác.

Điều đáng lo là có đến 74% tổng kim ngạch xuất cảng nằm trong tay các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp ngoại quốc (Foreign Direct Investment – FDI), phản ánh sự gắn kết chặt chẽ giữa nền kinh tế nội địa và chuỗi cung ứng toàn cầu. Năm 2023, tỷ trọng xuất cảng hàng hóa và dịch vụ đạt khoảng 94% GDP, với riêng hàng hóa chiếm tới 82% – con số đưa Việt Nam lên vị trí thứ 14 toàn cầu về tỷ lệ này. Thực tế cũng đồng thời diễn tả xuất cảng Việt nam đang vận hành như một cỗ máy kiếm nguồn lợi chính từ khu vực FDI và thị trường Mỹ. Tỷ lệ số liệu tăng theo thời gian như lời nhắc nhở rằng, đôi chân ngoại thương của Ba-Đình đang “teo tóp” cần được “Massage therapy” để dần xây dựng ngoại thương trên sức lực của chính mình.  

Chỉ tính trong 6 tháng đầu năm 2025, Việt Nam tiếp tục hưởng lợi gấp 8 lần trong thương mại song phương so với Mỹ: Việt Nam xuất sang Mỹ 70,91 tỷ Mỹ kim nhưng chỉ nhập 8,91 tỷ, xuất siêu 62 tỷ Mỹ kim (tăng 29,1%). Ngược lại, Ba-Đình dùng tới 84,7 tỷ Mỹ kim để mua hàng hóa của Trung cộng, mà chỉ bán cho phương Bắc được 19,1 tỷ – nhập siêu 55,6 tỷ (tăng 42,2%).

Như thế, số Mỹ kim đưa về từ hàng hóa bán cho Mỹ lại được Việt Nam sử dụng để mua nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị từ Trung cộng. Tình trạng đồng Mỹ kim tiếp tục được Ba-Đình bơm lên phương Bắc từ năm 2001, qua nhập siêu, được mô tả như cảnh “gánh vàng đi đổ sông Ngô”.

Từ khi hai nước Việt-Trung thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức, đặc biệt từ thập niên 1990 trở đi, khi kinh tế Việt Nam mở cửa, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và phát triển giao thương với Trung cộng. Các hiệp định thương mại, như hiệp định thương mại Việt – Trung ký kết vào năm 1991, đã tạo nền tảng để phát triển các hoạt động trung chuyển hàng hóa qua biên giới một cách bài bản, nhằm tận dụng vị trí địa lý và thúc đẩy xuất nhập cảng giữa hai nước.

Theo số liệu, năm 2001 Việt Nam nhập siêu từ Hoa Lục, khoảng 188,8 triệu Mỹ kim; năm 2002, 640,5 triệu; năm 2003 lên gấp đôi đến 1,255 tỷ Mỹ kim; năm 2005 lên quá gấp đôi 2,67 tỷ, đến (5) năm sau – 2010 lên tới 12,71 tỷ Mỹ kim, gần gấp 5 lần!

Dựa trên số liệu Việt Nam nhập siêu hàng năm từ Trung cộng đã công bố và không ngừng gia tăng cho đến hiện tại, cung cấp cái nhìn tổng thể về quy mô thâm hụt thương mại của Việt Nam với Trung cộng trong hơn ba thập niên qua vào khoảng 400-500 tỷ Mỹ kim.

Do thực tế trên, Hoa Kỳ nhận ra từ hàng chục năm qua csVN đã tạo điều kiện cho hàng hóa trung chuyển nhằm giúp Trung cộng né tránh thuế quan Mỹ. Hàng trung chuyển là các sản phẩm được sản xuất tại Trung công, vận chuyển đến Việt Nam rồi dán nhãn “Made in Vietnam” sau đó xuất cảng sang Mỹ như hàng hóa sản xuất tại Việt Nam.

Như thế, cách mà Ba-Đình liên tục nhập siêu hàng trăm tỷ Mỹ kim từ hàng chục năm nay, hay tổ chức cho hàng hóa Trung cộng “quá cảnh” Việt Nam để xuất cảng sang Mỹ . . .  đối với Mỹ là Ba-Đình thổi thêm gió vào cánh buồm của phương Bắc, giúp họ lướt nhanh hơn trong thương chiến với Mỹ.  

Trong khi khối doanh nghiệp tư nhân vui mừng vì chỉ bị mức thuế 20%, thay vì 46% thì, truyền thông quốc tế lại mô tả là Ba-Đình bị “bật ngửa” và “giân dữ” khi ông Trump tuyên bố mức thuế 20% trên mọi mặt hàng Việt Nam bán sang Mỹ và đòi đánh thuế 40% trên các hàng hóa “trung chuyển” qua Việt Nam để xuất cảng sang Mỹ. [1]

Chủ đích của mức thuế “quá cảnh” 40% nhắm vào các hàng hóa hay nguyên vật liệu có nguồn gốc từ Tầu cộng. Chi tiết chưa được công bố, nhưng Mỹ đã từng tỏ ý định áp thuế trên các linh kiện và nguyên vật liệu xuất xứ từ Hoa Lục. Trong trường hợp này thuế trung chuyển 40%, nếu nhìn từ góc cạch chính trị, thì cũng là cách giúp Ba-Đình bớt lệ thuộc vào Trung Nam Hải.

Dư luận tại Việt nam cho rằng: (i) Thuế đối ứng 20% áp dụng trên toàn bộ hàng hóa xuất cảng từ Việt Nam sang Mỹ, khiến giá bán tăng, giảm sức cạnh tranh. Hai ngành thủy sản và nông sản bị ảnh hưởng lớn nhất. (ii) Thuế trung chuyển 40% nhắm vào hàng hóa có nguồn gốc từ nước thứ ba (đặc biệt là Trung cộng) nhưng xuất cảng qua Việt Nam — gây rủi ro lớn cho các doanh nghiệp gia công, lắp ráp. Các ngành bị ảnh hưởng nặng nhất diệt may, da giày, điện tử, đồ gỗ: Các ngành này phụ thuộc nhiều vào nguyên liệu nhập cảng từ Bắc phương, dễ bị coi là “trung chuyển”.

Tính đến cuối năm 2024, Việt Nam có khoảng 940.000 doanh nghiệp đang hoạt động, trong đó gần 98% là doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV). Đây là lực lượng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, đặc biệt trong việc tạo việc làm, khai thác thị trường ngách (Niche market) và thúc đẩy đổi mới sáng tạo.

Qua các thăm dò sơ khởi gần đây, dường như đa số dân chúng và DNNVV vui mừng khi hàng hóa Mỹ được nhập cảng vào Việt Nam với thuế suất 0%. Việc này không chỉ giúp người tiêu dùng Việt tiếp cận sản phẩm chất lượng cao với giá cạnh tranh, mà còn mở ra cơ hội cho Việt Nam trở thành trạm trung chuyển hàng Mỹ sang các nước Đông Dương như Lào, Campuchia và Thái Lan. Với vị trí địa lý và hệ thống cảng biển thuận lợi, Việt Nam có thể đóng vai trò như một “chợ Mỹ tại Đông Nam Á”.

Cơ hội “Thoát Trung” cho Việt Nam

Đây chính là vận hội mới để các DNNVV Việt Nam tận dụng cơ may: (i) Tham gia vào chuỗi cung ứng: từ logistics, đóng gói, phân phối đến dịch vụ hậu cần. (ii) Gia công, sản xuất theo tiêu chuẩn Mỹ: phục vụ thị trường nội địa và khu vực. (iii) Phát triển thương hiệu nội địa: kết hợp với sản phẩm Mỹ để nâng cao giá trị.

Nếu tận dụng tốt, Việt Nam không chỉ là điểm đến của hàng Mỹ, mà còn là cầu nối thương mại chiến lược trong khu vực Đông Nam Á, để qua đó tạo ra “lực đẩy” tiến đến tự lực trong xuất cảng. Bởi vì, bất cứ quốc gia nào mà nền kinh tế không tự đứng trên đôi chân của mình thì sớm muộn cũng bị người ngoài thao túng từ kinh tế đến chính trị.

Việt Nam nên chuyển đổi từ mô hình “gia công” sang “thiết kế sáng tạo” cho chính nước mình. Chỉ khi nào Việt Nam tự đứng vững bằng chính nội lực của mình – từ nguyên liệu sản xuất đến thương hiệu quốc gia – thì vị thế trên thương trường mới thực sự được củng cố. Sự thức tỉnh này không chỉ ở lãnh vực kinh tế, mà còn là giải pháp bảo đảm cho quyền tự quyết của Dân Tộc Việt từng đứng vững trước phong ba vùi dập 1000 năm của bạo chúa Bắc phương.

Trần nguyên Thao

[1] https://www.bbc.com/vietnamese/articles/clylg7kerl4o

Ảnh minh hoạ: Vận Hội Mới