
Để củng cố chiếc ghế thêm 5 năm nữa (2026-2031), Ba Đình tung ra gói “siêu trình diễn” gồm 234 dự án tại 79 điểm, tổng vốn 3,4 triệu tỷ đồng. Nhà nước góp 18%, còn lại 82% [1] trông vào tư nhân cho… hợp trào lưu. Tất cả nhằm hiện thực hóa giấc mơ GDP hai chữ số từ năm 2026 dựa vào giải ngân các đại dự án.
Năm 2025, kinh tế Việt Nam tăng tốc ấn tượng với GDP gần 8%, nhờ xuất cảng hồi sinh và đầu tư công chạy hết công suất. Nhưng phía sau con số đẹp là cái giá không rẻ: lãi suất hạ sâu, cung tiền mở rộng và tiền đồng trượt khoảng 3,5%, kéo theo chi phí nhập cảng và lạm phát len vào bữa cơm người dân. Doanh nghiệp vẫn thi nhau bỏ cuộc chơi, số còn lại thì chật vật, sức mua èo uột, nhiều con phố vắng tanh . . . Một năm tăng trưởng rực rỡ trên giấy, nhưng thực tế lại nhắc khéo Ba-Đình rằng, bài toán cân bằng vĩ mô chưa bao giờ là dễ dàng.

Kinh tế học phát triển thường phân biệt hai loại tăng trưởng: tăng trưởng thực và tăng trưởng “vẽ vời”. Loại thứ nhất dựa trên năng suất, đổi mới và cải thiện phúc lợi xã hội; loại thứ hai dựa trên trò lừa số liệu, những lễ khởi công hoành tráng và những bảng thống kê khiến người đọc phải nheo mắt để tìm xem lợi ích thực nằm ở đâu. Sự kiện Việt Nam đồng loạt khởi công và khánh thành 234 dự án với tổng vốn hơn 130 tỷ Mỹ kim vào ngày 19 tháng 12 là một ví dụ điển hình cho hiện tượng thứ hai – một minh chứng sống động cho cách mà tăng trưởng có thể được “tạo ra” với tốc độ nhanh hơn cảm nhận của mọi người.
Lễ khánh thành 234 đại dự án có sự tham dự của nhiều lãnh đạo cấp cao, đã tạo nên một bức tranh được phe có quyền mô tả là “đầy khí thế”. Trong kinh tế học, thì gọi đây là “tín hiệu chính sách” – một cách để Nhà Nước thể hiện quyết tâm thúc đẩy tăng trưởng GDP. Tuy nhiên, trong thực tiễn, khi tăng trưởng trở thành trình diễn – tín hiệu chính sách đôi khi giống như pháo hoa: rực rỡ, ồn ào, nhưng không nhất thiết để lại giá trị lâu dài ngoài cảm giác phấn khích nhất thời.
Việc công bố tổng vốn hơn 3,4 triệu tỷ đồng, bằng gần 130 tỷ Mỹ kim là một tín hiệu rất mạnh. Nhưng như mọi nhà kinh tế đều biết, tổng vốn không phải là tổng giá trị. Một dự án 10 tỷ đồng đội vốn lên gấp đôi hay hơn nữa, không làm đất nước giàu hơn; nó chỉ làm bảng cân đối kế toán có số liệu nặng nề hơn và ngân hàng thêm phần lo lắng hơn do một phần dự án mang giá trị ảo, khiến ngân hàng có thể không thu được nợ qua các dự án này.
Theo báo chí nhà nước, khoảng 82% tổng vốn của 234 dự án đến từ khu vực tư nhân. Điều này nghe cứ như là thành công của mô hình phát triển dựa vào thị trường. Tuy nhiên, câu hỏi quan trọng hơn – và cũng thú vị hơn – là: tư nhân nào?
Trong bối cảnh Việt Nam, “tư nhân” có thể bao gồm: Doanh nghiệp tư nhân thuần túy; Tư bản thân hữu; Tư bản quan hệ mật thiết với các nhóm lợi ích; Doanh nghiệp vay vốn ngân hàng nhà nước để làm dự án “tư nhân”.

Giới quan sát kinh tế độc lập cho biết, phần lớn 234 đại dự án được chia chác cho các nhóm tư bản thân hữu của phe tiếp tục giữ quyền. Khi được phê duyệt, họ chiếm dụng “đất vàng”, dùng làm tài sản thế chấp để vay vốn, đền bù rẻ rồi bán lại với giá thương mại cao gấp nhiều lần khiến giá BĐS tăng vọt. Các đại dự án của giới sân sau vay tín dụng lớn hơn, góp phần đẩy lạm phát lên. Hiện dư nợ BĐS tăng 18,5%, làm dấy lên nguy cơ vỡ nợ dây chuyền trong ngân hàng và doanh nghiệp địa ốc.
Về mặt học thuật, đây là hiện tượng “tư nhân hóa lợi ích, xã hội hóa rủi ro”. Lợi nhuận thuộc về doanh nghiệp, còn rủi ro đội vốn, chậm tiến độ, nợ xấu thì ngân hàng và tiền thuế của dân phải gánh. Nếu mọi chuyện suông sẻ, đó là thành công của khu vực tư nhân; nếu thất bại, lại đổ lỗi tại “khó khăn khách quan”.
Truyền thống “hô khẩu hiệu” thì xưng tụng khối doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) là “xương sống” của nền kinh tế, nhưng trong thực tại lại giống như… “mớ xương gà”, nhỏ, mềm và dễ bị ninh nhừ trong nồi lẫu vĩ đại chỉ để làm tăng độ ngon của món ăn chính là “234 đại dự án”. Trung bình các năm gần đây, mỗi năm suýt soát khoảng 200.000 doanh nghiệp rời cuộc chơi, riêng năm 2025 số doanh nghiệp phá sản lên đến 227.000. Vậy có phải Nghị quyết 68 đặt cược sẽ giúp khối DNNVV tăng lên 2 triệu công ty vào năm 2030 – dõng dạc như lời hiệu triệu chỉ phản ảnh thực trạng “thử kêu bắn tịt” (?) [2]
Nhìn sang Hàn Quốc, Nhật Bản hay Đài Loan, DNNVV của nước họ được nâng đỡ để trở thành vệ tinh của các tập đoàn lớn. Còn ở bên ta, DNNVV một tai nghe khẩu hiệu, tai kia vang lên lời dặn dò “tự xoay sở lấy”, trong khi ưu đãi và nguồn lực lại chảy về những dự án nghìn tỷ. Nếu phân phối dự án theo cách đang làm, thì DNNVV dù chiếm khoảng 98% tổng số doanh nghiệp tại Việt Nam, đóng góp gần 50% GDP, hơn 30% thu ngân sách Nhà Nước và tạo việc làm cho khoảng 82% lực lượng lao động, cũng vẫn tiếp tục đứng bên lề, nhìn các đại dự án phình to và nuốt trọn thị phần.

Trong kinh tế học Keynes (*), đầu tư công có thể kích thích tăng trưởng – nếu tạo ra giá trị thật. Còn kiểu xây cầu mà dân chỉ dám đứng xa mà ngắm, hay dựng nguyên “khu phố ma” hàng chục triệu căn nhà bỏ hoang như bên Tàu, thì đó chỉ là tiêu dùng công cộng khoác áo tăng trưởng GDP.
Việt Nam đã quá quen với những dự án đội vốn gấp ba, bốn lần. Nợ thì dân trả, còn “phúc lợi” do rút ruột công trình thì tham quan mang sang trời Tây mua sắm cơ ngơi. Thế nên mỗi lần trăm dự án khởi công cùng lúc, cảm giác “déjà vu” lại ùa về, như “quả đấm thép” Vinashin từng tan chảy năm 2010!
Nhiều nước từng thử “tăng trưởng bằng bê tông”: Trung cộng, Thổ Nhĩ Kỳ, Brazil… Kết quả giống nhau: GDP phình, nợ phình hơn, ngân hàng ôm rủi ro. Trong khi 65% dân quê vẫn đầu xuống trôn lên kiếm cơm qua ngày.
Hiện tượng này, kinh tế học gọi là “tăng trưởng dựa vào tích lũy vốn”, trái ngược với “tăng trưởng dựa vào sản suất nội địa”. Mô hình thứ nhất có thể tạo ra những con số đẹp trong vài năm, nhưng mô hình thứ hai mới tạo ra sự thịnh vượng bền vững.
Việt Nam hiện đang đứng trước ngã rẽ: tiếp tục đẩy mạnh đầu tư xây dựng để đạt mục tiêu tăng trưởng cao, hay chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa vào đổi mới, công nghệ, tăng năng suất tận dụng tài nguyên và lao động trong nước. Lựa chọn thứ nhất dễ làm, dễ nhìn thấy, dễ báo cáo; lựa chọn thứ hai khó hơn, đòi hỏi cải cách thể chế sâu rộng.
GDP là một chỉ số quan trọng, nhưng nó không phải là thước đo duy nhất của sự thịnh vượng. Khi GDP tăng nhờ đầu tư công và xây dựng, nhưng thu nhập thực của người dân không tăng, bất bình đẳng gia tăng, và nợ xấu phình to, thì GDP trở thành số liệu “vẽ vời” hơn là phản ánh thực chất.

Trong kinh tế học, hiện tượng này được gọi là “GDP illusion” – ảo giác tăng trưởng. Một nền kinh tế có thể nhảy vọt 8%–10% nhờ bơm vốn ồ ạt, nhưng nếu năng lực sản xuất không đổi, thì mức tăng ấy – dù được ca ngợi bằng những mỹ từ về “tư duy, tầm nhìn và khát vọng vươn ra biển lớn – cũng chỉ như bóng bay: sáng loáng, nhưng mong manh, dễ vỡ.
Các dự án BOT, PPP hay tư nhân vay ngân hàng cũng vậy: rủi ro nợ xấu gần như “đi kèm combo”. Chỉ cần dự án chậm tiến độ, đội vốn hay khai thác kém hiệu quả, ngân hàng lập tức phải xoay đủ kiểu – cơ cấu nợ, giãn nợ, thậm chí xóa nợ. Hệ thống tài chính vì thế yếu đi, và hiệu ứng domino lan ra toàn nền kinh tế như một đám mây xám lơ lửng trên bầu trời tăng trưởng.
Trong bối cảnh ấy, việc khởi công hàng trăm dự án xây dựng cùng lúc giống một ván cược lớn: thắng thì kinh tế có cú hích đáng kể, thua thì hậu quả để lại không chỉ lâu dài mà còn… đau.
Từ góc độ học thuật, sự kiện 234 dự án là một ví dụ điển hình cho mô hình tăng trưởng dựa vào đầu tư “xây & cất” – một mô hình có thể tạo ra tăng trưởng nhanh nhưng không bền vững. Có thể mô tả rằng Việt Nam đang cố gắng xây dựng tương lai bằng tốc độ nhanh hơn khả năng hấp thụ của nền kinh tế.
Tăng trưởng thực sự không đến từ số lượng dự án được khởi công, mà từ chất lượng của chúng; không đến từ tổng vốn đầu tư, mà từ hiệu quả sử dụng vốn; không đến từ những lễ khởi công hoành tráng, mà từ những cải cách thể chế âm thầm nhưng bền bỉ.
Nếu không có mô hình sản xuất nội địa đủ mạnh, 234 đại dự án cũng chỉ là 234 minh chứng tăng trưởng “vẽ vời”, đẹp mắt nhưng hão huyền, đúng nghĩa số liệu “GDP illusion”.
Trần nguyên Thao
[1] https://baomoi.com/tong-thuat-thu-tuong-chinh-phu-va-chu-tich-quoc-hoi-du-le-khoi-cong-khanh-thanh-234-du-an-lon-tren-ca-nuoc-c54048304.epi
[2] https://nguoiquansat.vn/227-200-doanh-nghiep-rut-lui-khoi-thi-truong-trong-nam-2025-264850.html#google_vignette
(*) lý thuyết kinh tế học Keynes cho rằng tổng cầu quyết định mức sản lượng và việc làm trong nền kinh tế.
(**) “déjà vu” thành ngữ Pháp: “Đã từng thấy”.
![]()








































