Trần Phong Vũ

Hôm nay, Thứ Năm, ngày 1 tháng Giêng đầu Năm Mới Dương Lịch 2026. Lợi dụng dịp này, tôi khai bút mở đầu loạt bài nhận định/bình luận dự tính sẽ viết tiếp về cuốn phim “Chiến Tranh Việt Nam – Những Chuyện Chưa Kể” (VietNam War, Untold Stories) vừa được trình chiếu lần đầu hôm Chúa Nhật 22-12-2025 vừa qua tại Lavender Hall, thuộc thành phố Westminster, miền Nam California Hoa Kỳ.

Trong phần mở đầu, dạo diễn cho gợi lại sự kiện ngày 17-9-2017 tức 8 năm trước, PBS đã khởi chiếu bộ phim dài 18 tiếng với tiêu đề “VietNam War” do Ken Burns và Lynn Novick đạo diễn. Kể từ đấy đã xuất hiện những tiếng nói bất bình trong công luận thế giới, cách riêng người Việt Nam. Stevele cho rằng: coi xong bộ phim ông không khỏi thất vọng với cảm nghĩ người làm phim đã trình bày cuộc chiến Việt Nam là cuộc chiến giữa Mỹ & cộng sản Bắc Việt. Trong khi ấy, Đại sứ Bùi Diễm mỉa mai, nếu so sánh tình hình miền Nam với tình hình miền Bắc, có thể nói rằng, chúng ta không ở Thiên Đàng nhưng chắc chắn cũng không bị đọa đầy trong Hỏa Ngục như đồng bào đang sống ở miền bắc vĩ tuyến 17!
* * *
Sau đây là sơ thảo những nhận định riêng của người viết về cuốn phim do nhà sản xuất Phạm Văn Nam và đạo diễn Nguyễn Đức thực hiện và trình chiếu lần đầu, Chúa Nhật, ngày 22-12-2025 vừa qua.
Vì không có sẵn cuốn phim để coi lại, nên với bài sơ thảo này tôi chỉ lướt qua một cách khái quát về lối giàn dựng phim theo trí nhớ mỏi mòn của một người già sắp bước qua tuổi 94. Do đó, mọi thiếu sót của người viết gần như đương nhiên.
Để khán/thính giả dễ theo dõi diễn tiến cuốn phim trong 90 phút chiếu, đạo diễn đã tập chú nội dung phim vào 12 phân cảnh.
Tôi không muốn là kẻ “ăn ốc nói mò”. Vì thế, trong bài đầu này, thay vì nêu ra những nhận định/bình luận sâu sát, tôi chỉ giới hạn vào những suy tư bất chợt liên quan tới thành tâm/thiện chí và công khó của những bước chân khai phá tác vụ vô cùng quan trọng và thiết yếu này mà thôi.
* * *

Trước hết, theo thiển ý của một người cầm bút, chỉ cần giới hạn vào công khó của một sử gia, một người viết văn, làm thơ hay soạn kịch, để có được công trình hoàn chỉnh cống hiến cho người đọc, hẳn là không dễ. Huống chi đây là một cuốn phim, không phải một mà theo dự kiến sẽ có nhiều tập, để triệt tiêu gian ý kẻ đã đổ ra 30 triệu Mỹ Kim làm một bộ phim trình chiếu 18 giờ để xuyên tạc cuộc chiến thần thánh của nền Cộng Hòa non trẻ Việt Nam… thì nói sao cho hết những gập ghềnh, gian khó của một nhóm nhỏ tự nguyện sắm vai tiên phong???
Từ ý nghĩ một cá nhân quy tụ được năm bảy cái đầu mang chung một tâm nguyện đã là một phép màu khó tin. Càng khó tin hơn khi tất cả những người thiện chí đang đứng mũi chịu sào ấy hoàn toàn tay trắng! Hàng chục câu hỏi được đặt ra trước mắt. Làm sao để lấp đầy 12 phân cảnh trong cuốn phim đầu để đánh thức lương tri công luận? Bằng cách nào có được những mẩu chuyện, những thước phim tài liệu quý, có sức thuyết phục mọi người? Từ cuộc chiến Đông Dương thứ nhất; cuộc di cư không tiền khoáng hậu năm 54; những vinh quang, thử thách của chí sĩ Ngô Đình Diệm trải qua trong 9 năm xây dựng thể chế Cộng Hòa, Tự Do đầu tiên trong cả vùng Đông Á cho Việt Nam?… Bên cạnh đó là những sự thật ẩn tàng bên trong và đàng sau cuộc chiến đau thương, tang tóc do cộng sản Bắc Việt trực tiếp gây ra với sự đỡ đầu bằng vũ khí, đạn dược, kể cả các binh đoàn mang sức mạnh áp đảo của Bắc Kinh và Mạc Tư Khoa?

Những tư liệu, những thước phim mang giá trị lịch sử tìm được cài đặt trong cuốn phim đã đành là quý và cần thiết. Tuy nhiên, nếu chỉ có thế vẫn chưa đủ để thuyết phục đám đông khán giả, nếu thiếu vắng tiếng nói từ trái tim của các chứng nhân sống. Nhận thức nhu cầu khẩn thiết này, nhóm anh chị em thực hiện cuốn phim đầu, trong khi xông xáo tìm kiếm tư liệu đã không quên để mắt nhìn ra chung quanh mình. Trước hết là bà con trong các cộng đồng tỵ nạn ở hải ngoại, bất kể thành phần, giai cấp, địa vị, già/trẻ, nam/nữ. Đặc biệt là cựu quân nhân các cấp thuộc mọi quân binh chủng trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, những nhà ngoại giao và cả đám đông báo giới, thức giả ngoại quốc từng quan tâm theo dõi, và một thời đã trực tiếp can dự vào cuộc chiến tranh đẫm máu mà đồng bào miền Nam phải gánh chịu trong cả chục năm trường.
Để có thể làm được những công việc lớn lao này, hẳn nhiên anh chị em trong Nhóm Thực Hiện cuốn phim đã phải hy sinh thì giờ, công sức kể cả tài chánh, để thực hiện những chuyến du hành khắp nơi, không chỉ giới hạn trong phạm vi Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ. Trong trường hợp ấy, một vấn đề lớn nảy sinh. Đó là vấn đề tài chánh. Theo những gì tôi biết, cho đến khi hoàn tất cuốn phim đầu, số chi phí đã lên tới gần nửa triệu Mỹ Kim mà phần lớn do đóng góp của mạnh thường quân, vẫn chưa đủ trang trải.
* * *
Lẽ ra bài sơ thảo này tạm kết thúc ở đây. Tuy nhiên, vào phút chót tôi may mắn có được Video cuốn phim. Lợi dụng cơ hội này, tôi bỏ ý định công bố sớm vào đúng ngày đầu Năm Mới Dương Lịch 2026, để toát lược chứng từ của một số nhân chứng do tôi chủ quan lựa chọn để tường trình cùng quý khán thính giả sau đây:
Kỹ sư Đỗ Như Điện đã dùng chính trường hợp riêng gia đình ông để qua đó phản chiếu những trải nghiệm trong cuộc di cư không tiền khoáng hậu của đồng bào miền Bắc bỏ lại gia tư điền sản với hai bàn tay trắng giã từ nơi chôn nhau cắt rốn vào Nam xây dựng lại từ đầu. Ông cho hay, vì thân phụ ông cũng như đông đảo đồng bào thuộc hai giáo khu tự trị Bùi Chu/Phát Diệm đều là người hiểu cộng và quyết liệt chống cộng nên Cụ nghĩ rằng, cho dù những người trẻ như bầy con Cụ, cũng cần phải đi Nam mới có tương lai. Theo dự kiến, gia đình ông sẽ lên đường vào dịp Tết Trung thu, tức thời gian ngay sau khi Hiệp Định Genève ra đời. Không may ông già bị công an CS bắt bỏ tù nên dự tính ban đầu phải bỏ. May mắn cuối tháng 2 năm 1955, Cụ được phóng thích. Nhờ là người quảng giao, bạn bè quen biết nhiều nên vào một buổi sáng gia đình ông tới tỉnh lỵ Nam Định, sau đó là Hà Nội rồi dùng ghe đến cảng Hải Phòng và xuống tàu Mỹ cùng hơn 9000 đồng bào xuôi Nam. Qua câu chuyện kỹ sư Điện kể, người nghe hình dung được những gian khó ngót một triệu đồng bào di cư, trong số đó có gia đình ông, trải qua. Những âu lo, vất vả trong chuyến đi cũng như những tháng ngày đầu sống xa nơi chôn nhau cắt rốn đã được đền bù xứng đáng trong suốt những năm vàng son sống dưới chế độ Cộng Hòa miền Nam.

Lên tiếng trong cuộc phỏng vấn, Giáo sư Geoffrey Shaw, đã hết lời xưng tụng nền Đệ Nhất Cộng Hòa Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Ông nói, người dân miền Nam, vì hiểu rõ nhân thân, cốt cách, giòng họ ông Diệm nên họ kính trọng và đánh giá ông rất cao. Do đó, hầu hết đồng bào miền Nam, nhất là khối dân Bắc di cư đã tích cực ủng hộ việc kiến tạo Đệ Nhất Cộng Hòa Việt Nam. Để hiểu rõ quan điểm của vị GS này, chỉ cần đọc qua tác phẩm “The Lost Mandate of Heaven – Thiên Đàng Lỡ” của ông do Ignatius Press xuất bản là đủ.
LS Trần Thanh Hiệp sinh năm 1927, hiện ở Pháp, và nhà văn Vũ Thư Hiên sinh năm 1933 (đã qua đời gần đây), cả hai đều nêu ra những bằng chứng cụ thể là Hồ Chí Minh luôn miệng nói là chống thực dân Pháp, nhưng thực tế, lúc nào cũng trông đợi binh dội của họ trở lại để mượn tay đàn áp, khống chế phe Quốc Gia. Theo LS Hiệp, chính ông Hồ đã nhắn mời ông cùng các đồng chí thuộc phe Quốc Gia ra hợp tác, nói là để chống Pháp nhưng sau đó đã ra tay khủng bố, bắt giam các lãnh tụ của ông.

Trước sự kiện người Mỹ can thiệp quá sâu vào chính tình Việt Nam khiến TT Diệm bất bình chống lại, tác giả Đêm Giữa Ban Ngày cho rằng, lẽ ra Hoa Thịnh Đốn chỉ nên trợ giúp phương tiện cho miền Nam chống lại CSBV thì hay hơn là ồ ạt đổ quân vào, đã làm cho cuộc chiến chống lại cộng sản Bắc Việt (CSBV) của Việt Nam Cộng Hoà mất chính nghĩa. LS Cù Huy Hà Vũ con trai cố Thi Sĩ Cù Huy Cận, một lãnh tụ cấp trung ương của CSBV; ông từng được coi là một trong vài “Thái Tử Đảng” đã công khai đứng lên đối đầu với đảng, từng bị Hà Nội kết án nhiều năm và gần đây mới được phóng thích qua Hoa Kỳ.
Lên tiếng trong phim, LS họ Cù cho rằng ông Hồ và đảng CSBV bị áp lực quá lớn của đàn anh phương Bắc có khả năng dẫn tới sự kiện Việt Nam trở thành thuộc địa của họ. Để lý giải cho cuộc cải cách ruộng đất dẫm máu lương dân này, ông Vũ cho rằng: Bắc Bộ phủ đã phải nhắm mắt tiến hành “vì sợ bị cắt viện trợ”.
Phần nhà biên khảo Đỗ Thông Minh, với chứng liệu cụ thể đã cho biết vào năm 1950 họ Hồ qua viếng Nga, Staline khuyến cáo ông ta là, Việt Nam phải học theo bài học của Bắc Kinh truy cùng, diệt tận địa chủ.

Được mời so sánh tình hình nghiệp đoàn lao động giữa hai miền Nam/Bắc, GS Nguyễn Văn Tánh, một lãnh tụ công nhân thời Đệ Nhất Cộng Hoà Việt Nam từng có ba năm nghiên cứu và học hỏi về hệ thống Nghiệp Đoàn công nhân ở Pháp, cho biết: trong khi phong trào Nghiệp Đoàn ở Nam do ông Trần Quốc Bửu lãnh đạo mà ông là người cộng tác, được tổ chức chu đáo, quyền lợi người lao động được bảo vệ về mọi mặt, không bị chính quyền can thiệp thì dưới chế độ toàn trị CSBV, một chế độ từng núp dưới danh nghĩa Lao Động một thời để che đậy cái đuôi CS lại trắng trợn phản bội giới cần lao. Sau khi cướp được chính quyền, chúng để lộ nguyên hình là một bày ác quỷ. Ngoài miệng hô vang khẩu hiệu “nhân dân làm chủ đất nước”, và “công nhân là đội tiên phong của chế độ” thì trên thực tế tất cả chỉ là bánh vẽ!
Hai ông Phạm Thanh Quang và Phạm Anh Dũng là chứng nhân về những Sự Thật đàng sau cái gọi là “Đường Mòn Hồ Chí Minh”. Ông Quang, thuộc lực lượng Lôi Hổ cho hay, năm 67 đơn vị ông được lệnh tới hải cảng Vinh thuộc tỉnh Quảng Bình nơi tập trung những khuôn mặt trẻ bị CSBV cưỡng chế xâm nhập miền Nam với ý đồ phá hoại. Trong số đó có những đứa trẻ khoảng 14/15 tuổi, mặt mũi ngây ngô, hốc hác. Đơn vị ông có trách nhiệm theo dõi để tìm hiểu: họ là những ai, xâm nhập cách nào, bằng những phương tiện gì? Theo ông, đám đông lên đường với phương cách khác nhau: lội bộ, xe đạp, xe máy, xe thồ với đồ đạc, quần áo lỉnh kỉnh nương nhau đi theo từng đoàn len lách trên đoạn đường mòn băng rừng, vượt suối trên dãy Trường Sơn xuyên qua các khu rừng rậm nằm sâu biên giới hai quốc gia Ai Lao và Cao Miên. Khi tới Đông Hà, họ được lệnh thay đổi trang phục, với quần áo bà ba, khăn sọc quàng cổ tương tự như bộ đội Giải Phóng miền Nam.
Vẫn theo ông Quang, phía Tây Trường Sơn, nhờ sự trợ giúp của các đoàn Công Binh Pathet Lào, Khờ Me Đỏ và Trung Cộng, đường mòn đã trở thành xa lộ lớn giúp đoàn người còn sống sót được di chuyển trên những chiến xa trước khi xâm nhập miền Nam.
Ông Phạm Anh Dũng, sĩ quan Không Quân thuộc phi đoàn 213 Đà Nẵng cho biết phi cơ trực thăng của ông từng bị bắn hạ hai lần trong khi bay tại biên giới Việt Lào. Ông thoát chết phải tìm đường lẩn trốn, nhờ thế ông phát hiện những đoạn đường mòn cheo leo lúc trước nay trở thành trục lộ cao tốc rộng rãi để cho những đoàn xe tăng hàng trăm chiếc của CSBV. Cuối cùng ông bị chúng bắt làm tù binh.

Với giọng nói quyết liệt, ngắn, gọn, đầy tự tin của một Sĩ Quan Mũ Đỏ từng tuyên bố “chưa hề giải ngũ”, Đại Úy, nhà văn Phan Nhật Nam xác nhận với người phỏng vấn là Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù của anh đã góp phần giữ yên mặt trận Quảng Trị. Vẫn những cánh dù kiêu hùng, bất bại ấy đã hiện diện đúng lúc trong cuộc đụng độ sống mái với bắc quân tại mặt trận Mậu Thân (1968) ở Huế. Và vào phút chót, họ đã lật ngược thế cờ, truy diệt đám tàn quân lấy lại Cố Đô cho Đất Mẹ vào ngày 24-2-1968. Trước đó, có tin cho hay, vì suy kiệt, lành ít dữ nhiều, bắc quân đã khẩn nài trung ương cho rút để bớt tổn hại binh lực, nhưng Lê Đức Thọ, nhất là Lê Duẩn đã dứt khoát khước từ, buộc họ phải bám trụ tới cùng, hy vọng mang lại một lợi thế nào đó cho phái đoàn CSBV tham dự Hội Nghị Paris.

Về phần Đề Đốc Nguyễn Từ Huấn, với gương mặt buồn rầu, cố gắng nuốt lệ thuật lại cái chết đau thương tột cùng của thân mẫu và anh chị em ông dưới tay súng của tên Việt cộng cùng hung cực ác. Mở đầu cuộc phỏng vấn, ông cay đắng nói: Hãy mường tượng nếu Eddie Adams chụp bức hình gia đình ông bị cộng sản hành quyết dã man vào dịp Tết Mậu Thân, phản ứng của thế giới sẽ ra sao? Bức ảnh đó sẽ thay đổi vận mạng, thắng/thua trong cuộc chiến Việt Nam. Nhưng có nhiều người nói, đối với nhiếp ảnh gia Eddie Adams, hình ảnh đó gây hại hơn lợi! Eddie lạnh lùng nói tới hai cái chết chỉ vì tấm hình do y chụp Tướng Nguyễn Ngọc Loan xử tử trên sát nhân hàng loạt ngay giữa đường phố vì thuộc hạ cho biết đã chứng kiến hắn hạ sát gần trọn một gia đình lương dân ở Huế. Và đây là lời Eddie Adams: viên tướng đã sát hại Bảy Lốp; còn tôi, chính tôi đã giết viên tướng, không phải bằng súng mà bằng tấm hình do tôi chụp.

Kể lại câu chuyện mang âm hưởng hài hước này chỉ làm cho công luận nhăn mặt một thoáng tức giận chứ không hề có tiếng cười. Trở lại với gương mặt buồn sâu thẳm của Đề Đốc Từ Huấn ngậm ngùi cúi xuống như muốn ngăn giọt lệ tuôn trào. Ông nhắc lại những cái chết thảm khốc mà tên cộng sản có trái tim bằng đá đã xuống tay hạ sát gần trọn gia đình ông, gồm thân mẫu và bầy con nhỏ dại của bà, trừ ông, khiến ông không hiểu tại sao y đã dí súng vào màng tang chú bé là ông, rồi bỗng dưng đổi ý. Có thể dù là tay giết người chuyên nghiệp có máu lạnh, nhưng thản hoặc cũng có lúc bị lạc lỏng.
Khi đã trưởng thành, mỗi khi nhớ lại quang cảnh ông là đứa trẻ duy nhất còn sống bên những thi thể đẫm máu của người ruột thịt nằm vắt lên nhau giữa căn nhà của mình, ông nghĩ rằng chính Chúa đã cứu ông. Từ đấy cho tới nay, mỗi lần Tết Nguyên Đán trở về trái tim ông lại đau nhói khi nghĩ tới cảnh thân mẫu một tay ôm đứa con còn sống sót, một tay rên rỉ ôm vết thương ướt đẫm máu đào trong cả tiếng đồng hồ trước khi tắt thở. Sau ngày mất miền Nam, theo người thân qua Mỹ và khi trưởng thành gia nhập Hải Quân Hoa Kỳ, ông tự nguyện khi lâm trận sẽ chiến đấu đến cùng để bảo vệ quê hương thứ hai này. Dĩ nhiên cả Việt Nam, nếu cơ hội đến.
* * *
Nếu cần đóng góp ý kiến cho nội dung các cuốn phim kế tiếp, tôi nghĩ ngay tới bổn phận phải vạch trần tham vọng xâm chiếm trọn vẹn lãnh thổ Việt Nam của tập đoàn CSBV không chỉ nảy sinh sau Hiệp Định Genève chia đôi đất nước. Được nghe nhận định của nhà văn Vũ Thư Hiên trùng hợp với nhận định của mình khi họ Vũ trả lời phỏng vấn của nhóm làm phim, ông cảm thấy phấn chấn và tự tin hơn. Theo Vũ Thư Hiên, ngay từ khi Lê Duẩn còn hoạt động trong Nam, công cuộc đào hầm chôn giấu vũ khí, chỉ định nhân sự cài lại trong Nam đã được chuẩn bị bài bản trước đó nhiều năm. Ngoài ra câu chuyện bắt cóc trẻ em ở thôn quê để nuôi nấng dưỡng dục trong các nhà trẻ bề mặt do các tôn giáo trá hình điều khiển nhưng thực chất do Mặt Trận chủ xướng, tôi còn nghe phong thanh nhóm đầu sỏ đã tổ chức những đám cưới vội vã cho lớp trai tráng sắp lên đường với những cô gái kết nạp từ lục tỉnh… để chuẩn bị cho những kế hoạch lâu dài kết nối giữa hai bên khi thời cơ đến mai ngày.
Hiệp Định Geneve quy định thời hạn 300 ngày kể từ 20-7-1954, đất nước bị chia cắt, toàn thể công dân, bao gồm dân thường và quân đội cũng như các viên chức trong chế độ hai bên có quyền lựa chọn nơi định cư. Cụ thể, người sống trong Nam, nếu muốn, có thể tập kết ra Bắc không giới hạn nhân số. Và người Bắc muốn vào Nam cũng thế. Thống kê cuối cùng cho thấy số người Bắc chọn sống tại miền Nam lên tới con số ngót một triệu đa số là dân thường dù đã bị công an, mật vụ của chế độ mưu toan, lén lút ngăn cản qua nhiều phương sách tinh vi để tránh tai mắt của văn phòng Đại Biểu Chính Quyền trong Nam tại Hà Nội và Ủy Hội Quốc Tế. Trong khi ấy, số người Nam chọn tập kết ra Bắc chỉ vỏn vẹn khoảng 100 ngàn mà tuyệt đại đa số lại là những cán bộ trong mặt trận Giải Phóng Miền Nam đã lộ diện. Sự kiện này cho thấy 2 điều. Thứ nhất, tuyệt đại đa số đồng bào miền Nam không ưa cộng sản. Thứ hai, đông đảo những cựu du kích quân, cùng với hàng chục ngàn cảm tình viên của Mặt Trận Giải Phóng đã được Hà Nội chỉ thị cài cắm lại miền Nam. Để làm gì, hẳn mọi người đã rõ.
Người viết hẹn sẽ trở lại vấn đề này cách rốt ráo trong những bài sau.
Miền Nam California, Hoa Kỳ
những ngày đầu Năm Mới Dương Lịch 2026
Trần Phong Vũ
![]()










































