Bài 1 –  Đôi nét về nhà văn Phạm Tín An Ninh

Trần Phong Vũ

1. Nhà văn Phạm Tín An Ninh theo độc giả Tâm Thanh

Lục tìm trong ba tập sách tác giả ký tặng kể cả vài cuốn tự mua trước đó, nhưng hoài công, vì không thấy cuốn nào ghi lại tiểu sử ông. Cuối cùng tôi đành cầu cứu những nhận định sau đây trong bài “Đọc Phạm Tín An Ninh” (PTAN) của Tâm Thanh xuất hiện trên mấy trang đầu tác phẩm “Ở Cuối Hai Con Đường”*.

buổi ra mắt sách của
nhà văn Phạm Tín An Ninh từ Na Uy

“Truyện của PTAN đi thng vào lòng người… không cần mưỡu đầu hay bạt đuôi. Nếu phải có, thì người viết, ngoài thế giá văn chương, nên là một người phần nào đã trải qua như anh -từng xông pha trận mạc, từng đi tù cộng sản, từng vui tuổi thơ hoa mộng, từng một thời đào hoa bay bướm, rất chiu cht tình bạn, và bây giờ được bình tâm ôn chuyện xưa… Người như thế không hiếm trong số bạn hữu đông đảo của anh. Nhưng anh Ninh lại thích dành danh dự cho một người hoàn toàn không đạt được một tiêu chuẩn nào trong các tiêu chuẩn trên -một độc giả thầm lng trong số hàng vạn độc giả của anh.

Độc giả này chỉ có mỗi một ưu thế là cư ngụ chung với tác giả trên một vương quốc nhỏ bé, yên tĩnh miền Bc Cực. Và vì là đồng cư của anh, trong thời gian gần đây, hầu như mỗi tuần độc giả này lại nhận được một điệu thư hỏi: “Bạn ở Na Uy có biết PTAN không, sao viết cảm động thế?” Câu trả lời rất đơn giản, PTAN là một người sống thiết tha, và viết chân thành. Văn anh trở thành một dòng chảy hồn nhiên bt nguồn từ đời sống và song song với đời sống. Anh kể về đời tù cải tạo ở Nghĩa Lộ với cùng một giọng đôn hậu như kể về tuổi thơ ở Vạn Giả, Nha Trang.

Anh Ninh sống thế nào viết như thế nấy. Nhờ đó một câu chuyện , dù rất lạ lùng, ẩn hiện bóng dáng quen thuộc của chính người đọc. Nhiều hình ảnh đẹp khó tìm thấy trên đời (như quản giáo Nguyễn Văn Thà trong truyện ruột ‘Ở Cuối Hai Con Đường’, không cần tác giả cam đoan có thật, ta vẫn muốn tin là có thật, đđời đáng sống hơn. Đọc PTAN ta có cảm tưởng như những mảnh đời phiêu bạt tha thiết gọi nhau, xum họp trong lòng mình. Chuyện vinh nhục đời lính, chuyện đắng cay tù cải tạo, chuyện HO ở tuổi tri thiên mệnh từ trên 30 năm nay đã hàng ngàn người kể, đến nỗi sp thành nhàm chán, bỗng PTAN xuất hiện, khai quật những di tích mới.

Làm mới chuyện cũ, biến chuyện cũ thành gần như cổ tích thời đại là đóng góp đặc sc nhất của anh trong văn đàn hải ngoại. Khác với cổ tích thần tiên, truyện của anh chứa nhiều nghịch cảnh, đọc để chảy nước mt, nhưng ta có thể yên tâm mà đọc, vì trong mọi nghịch cảnh, kể cả thảm cảnh thù hận và tình yêu tan vỡ, PTAN không bao giờ dập tt ngọn nến cuối cùng -Niềm Tin-…”

Chưa có cơ may diện kiến hay nghe tiếng, nhưng tôi phải hết lòng cám ơn Thanh Tâm, người đã viết những dòng trên đây. Giản dị vì đã cung ứng cho tôi những dữ kiện quý giá, vượt xa những gì tôi mơ đọc được từ tiểu sử, hành trạng của một nhà văn. Tôi không rõ Thanh Tâm là bút hiệu hay tên thật ngoài đời. Tôi cũng không biết vị độc già này là nam hay nữ. Điều tôi tìm thấy qua tên người đọc sách là một trái tim thanh tịnh như dòng nước trong lành, tinh khiết chảy ra từ vùng biển Oslo, nơi tôi có dịp ghé thăm để được rót vào tai câu nói: đây là nguồn nước gửi đến từ Trời cao, mình có thể múc lên uống mà không cần phải qua một thủ thuật tinh lọc nào”. Thật tuyệt vời!

2. Điều gì tác giả cần nói về bộ phim “The Vietnam War”?

Trước khi đi sâu vào chi tiết trong những bài kế, người viết muốn nêu lên những ý nghĩ chợt đến về nhân thân tác giả họ Phạm mà tình cờ tôi phát hiện được trong “mưỡu đầu”, dù ngắn hơn nhiều so với “bạt đuôi” như nhận định của độc giả Thanh Tâm. Sau đó chúng tôi sẽ toát lược nội dung những nét lớn trong bài viết khá dài với trên 7 trang, khổ chữ 12 của nhà văn họ Phạm.

Theo nhận định của Thanh Tâm: “Truyện của PTAN đi thng vào lòng người…”. Vẫn theo vị độc giả được mời viết “Mưỡu” tức là viết “Lời Tựa” hay giản dị là giới thiệu tác phẩm, thì nhà văn, hay người lính họ Phạm còn “là một người sống thiết tha, và viết chân thành”. Chưa hết, bàn về cõi sâu thẳm trong tâm hồn là Niềm Tin của tác giả “Ở Cuối Hai Con Đường”, trong lần tái bản thứ ba,Thanh Tâm ghi nhận: “… truyện của anh chứa nhiều nghịch cảnh, đọc để chảy nước mt, nhưng ta có thể yên tâm mà đọc, vì trong mọi nghịch cảnh, kể cả thảm cảnh thù hận và tình yêu tan vỡ, PTAN không bao giờ dập tt ngọn nến cuối cùng -Niềm Tin-…”

Một lần nữa tôi cám ơn người bạn độc giả chưa quen Thanh Tâm đã khai quật một góc cạnh tuyệt vời ẩn sâu trong tim nhà văn họ Phạm. Tôi rất cần chi tiết này đề thưa với độc giả bài viết của tôi, quan trọng nhất là hai đạo diễn Ken Burns và Lynn Norvic đã đổ ra 30 triệu Mỹ Kim để khổ công thực hiện Bộ Phim đồ sộ “The Vietnam War” trình chiếu trong 18 tiếng đồng hồ để “lập lờ đánh lận con đen!”, cách đây hơn một thập niên. Tôi muốn nói với hai nhà đạo diễn và nhóm người đứng đàng sau họ rằng: nhà văn cũng là người lính PTAN khi cầm bút nói lên đôi điều, không phải ngẫu nhiên mà vì “cần phải nói”. Không phải để ăn thua đủ… mà là để trả lại Sự Thật đã bị những kẻ bất lương bóp méo và che giấu với những mục tiêu hèn hạ. Vì thế với bản chất một con người, một nhà văn, hơn thế, một người lính Việt Nam Cộng Hòa “Sống thiết tha và Viết chân thành”, những gì ông viết phát xuất từ trái tim Nhân Ái, không bao giờ dập tắt ngọn nến cuối cùng. Đó là Niềm Tin. Tin Mình, Tin Người. Tin Thượng Đế.

Trong hơn 7 trang giấy với khổ chữ 12, dưới tiêu đề “The Vietnam War – Đôi điều cần phải nói”, nhà văn và cũng là người Lính PTAN đã gói ghém nhưng suy tư của ông vào 6 điểm chính.

* Thứ nhất: Ken Burns, người thực hiện The Vietnam War là ai? Tác giả trả lời vắn tắt: “Trong chiến tranh Việt Nam, đương sự là một thành viên đắc lực trong phong trào phản chiến, là người thuộc cánh tả, ủng hộ đảng Dân Chủ”.

* Thứ 2: The Vietnam War dựa theo những tài liệu, hình ảnh nào, do ai cung cấp? Theo nhà văn họ Phạm, phần lớn dựa theo tài liệu, hình ảnh của bọn cấp tiến, thiên tả thuộc đảng Con Lừa, Hoa Kỳ, và của chính quyền Việt nam cộng sản cung cấp.

* Thứ 3: Những ai được phỏng vấn? Tác giả tóm gọn vào 3 thành phần sau đây:

– Những người Mỹ, một số cựu chiến binh tại Việt Nam, nhân viên của chính phủ, nhà báo; người có chồng, con tử trận tại Việt Nam, và có cả những người thuộc thành phần chủ chốt trong phong trào phản chiến trước đây.

– Những người Việt Nam trong nước. Hầu hết là những sĩ quan cao cấp, nhà văn nhà báo phục vụ chế độ CS. Ai cũng hiểu rằng, khi những nhà làm phim muốn tiếp xúc với họ đều phải qua chính quyền CSVN sắp xếp, chọn lựa hay tối thiểu là phải có sự cho phép, và tất nhiên phải nói những điều có lợi cho sự tuyên truyền của họ.

– Những người miền Nam (VNCH) đang sống tại Mỹ. Một số cựu sĩ quan, viên chức ngoại giao.

* Thứ 4: Đánh lừa công luận bằng cách trắng trợn gọi tên cuộc chiến tranh do mưu đồ xâm chiếm thôn tính miền nam Việt Nam của CSBV với sự đỡ đầu của CS Bắc Kinh và Mạc Tư Khoa, là một cuộc nội chiến (!?) Gian ý của Ken Burns người sắm vai chính đạo diễn thực hiện Bộ phim đồ sộ này đã khiến dư luận thế giới hiều lầm đây là một cuộc chiến giữa chính quyền Việt Nam Cộng Hòa và con đẻ của Hà Nội là đám Du Kích Quân và cái gọi là Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam!!!

*  Thứ 5: Cách hành xử sai lầm và “kẻ cả” của Mỹ đối với một đồng minh là căn nguyên đưa đến sự thất bại tại Nam Việt nam. Trên thực tế, Việt Nam Cộng Hòa, nói chung, cách riêng trong 9 năm cầm quyền, Tổng Thống Ngô Đình Diệm luôn chống lại chủ trương của chính quyền Kennedy đòi gia tăng số cố vấn và điều động cả trăm ngàn quân Mỹ tham chiến tại nam Việt Nam.

Nhà văn và với tư cách người lính Việt Nam Cộng Hòa, tác giả công khai tố cáo:

“Điều trịch thượng và “phi chánh trị” quái đản khác, từ khi đưa quân ào ạt vào Nam VN, Mỹ mặc nhiên xem cuộc chiến này là của họ. Trong tất cả các cuộc đàm phán, ký kết hiệp định, Mỹ tự cho mình ngang hàng với Bắc Việt và xếp Nam Việt Nam ngang hàng với MTGPMN. Trong khi ai cũng biết rằng: MTGPMN chỉ là một nhóm tay sai do Hà Nội dựng lên để lừa bịp quốc tế. (Ngay sau khi vừa chiếm Nam VN, CS đã khai tử MTGPMN, tất cả những nhân vật trong chính phủ của MT này không nhận được bất cứ một chức vụ quan trọng nào, và bị loại dần ra khỏi guồng máy lãnh đạo). Điều đặc biệt tệ hại hơn, Hiệp định Paris ký ngày 27.1.1973 là một áp đặt trắng trợn để ngay sau đó Hoa Kỳ phủi tay khi CSBV đã vi phạm thỏa ước hưu chiến trong ngày Tết nguyên đán, bất ngờ tổng tấn công vào nhiều thành phố lớn, vậy mà đã không có khả năng chiếm được bất cứ thành phố nào…”

* Thứ 6: “The Vietnam War quá bất công đối với Quân lực Việt Nam Cộng Hoà, một quân đội đã bị bức tử, không còn tiếng nói.”

  •  Đôi lời cuối của người viết

Lời trách cứ tự chế, đầy khoan nhượng trong điểm thứ 6 trên đây cho thấy tinh thần nhân bản, hiền hòa của nhà văn PTAN. Nếu phải bày tỏ sự phẫn nộ đối với hành vi gian lận, bóp méo Sự Thật chất chứa trong “The Viet Nam War”, đặc biệt điểm 6 này, ông là một trong những người có thẩm quyền hơn hết. Giản dị vì ông là đại diện cho những người lính VNCH đã trực tiếp góp phần xương máu trong chiến tranh VN.

“Một quân đội đã bị bức tử không còn tiếng nói”  mà một trong những nạn nhân bị trói tay bắt chết, buộc phải câm miệng ấy lại nhẹ nhàng coi như một sự bất công bình thường, chỉ có được nơi một con người luôn thiết tha với sự sống, khi viết thì viết chân thành và, “…trong mọi nghịch cảnh, kể cả thảm cảnh thù hận và tình yêu tan vỡ”, … cũng “không bao giờ dập tắt ngọn nến cuối cùng”. Đó là: “Niềm Tin…” như lời độc giả Thanh Tâm với tư cách độc giả của nhà văn họ Phạm.

Mời độc giả đón đọc những nhận định kế tiếp của người viết về quan điểm rốt ráo nhưng vẫn trong vòng lễ nhượng của nhà văn gốc lính Phạm Tín An Ninh khi miễn cưỡng, vì trách nhiệm đòi buộc cần phải lên tiếng.

Trần Phong Vũ
Miền nam California, Chúa Nhật 15-2-2026

_________________________

* Sau khi nhận được tác phẩm “Ở Cuối Hai Con Đường” do tác giả PTAN gửi tặng, cá nhân tôi đã dành trọn một buổi chiều để đọc một mạch từ đầu đến cuối, bao gồm 26 trang chót từ trang 259 đến trang 284, coi như những lời bạt của nhiều tác giả. Trong số có những bạn văn như Huy Phương, Phan Nhật Nam. Những nhà giáo thân quen đã quá cố như GS Nguyễn Thanh Liêm, GS Lưu Trung Khảo. Đặc biệt một người tôi quý mến là GS Trần Huy Bích hiện vẫn còn minh mẫn, tráng kiện dù tháng 4 năm 2026 tới đây ông tròn 90 tuổi. Bài của GS Bích đọc trong dịp giới thiệu tác phẩm dài 11 trang, rất có giá trị. Dù vậy cuối cùng tôi đã chọn vài trang “Đọc PTAN” của Thanh Tâm, vì nội dung cô đọng đáp ứng nhu cầu của tôi để đưa vào phần đầu bài viết này.

Loading