
Cuba đang lâm vào tình huống an sinh suy sụp mau chóng trong toàn xã hội do nền kinh tế chỉ huy mất kiểm soát. Rất có thể, sau biến cố Venezuela Mỹ sẽ chọn “Cuba là mục tiêu kế tiếp ngay khi rảnh tay ở Iran.” Tình huống này diễn ra đẩy Bắc Kinh vào thế lúng túng ở Tây bán cầu, trong khi lại “thất thế” ở eo biển Hormuz và còn lo ngại Mỹ sẽ kiểm soát eo biển Malacca, nơi 80% dầu mỏ nhập cảng của Trung cộng phải qua vùng biển hẹp này.
Tổng thống Donald Trump đưa ra tuyên bố đầu tháng 3, gây chú ý về định hướng chính sách của Mỹ đối với Cuba. Hướng về người Cuba Tự Do, TT Trump đem lại niềm hy vọng “Sẽ không lâu nữa đâu, các bạn sẽ được trở lại Cuba.” Lời hứa của TT Trump vang lên đúng lúc Havana đang chìm trong khủng hoảng kinh tế tồi tệ nhất kể từ thập niên 1990.
Gần 10 triệu dân Cuba đang “vật vã” từng ngày trong cảnh khốn cùng đan xen với khủng hoảng chính trị thành một vòng xoáy khó gỡ. Đồng peso mất giá liên tục, lạm phát thực tế cao gấp nhiều lần con số chính thức, điện bị cắt trung bình từ 15 đến 20 giờ mỗi ngày; máy bơm nước cũng ngừng theo, còn hệ thống y tế gần như kiệt quệ. Thiếu ngoại tệ khiến Cuba không thể nhập nhiên liệu, thuốc men hay thực phẩm, đẩy đời sống người dân xuống mức báo động.

Trong khi đó, khoảng 40 ngàn cán bộ cao và trung cấp (trong tổng số 500 ngàn đảng viên cộng sản các ngành của cộng đảng Cuba) lại được ưu đãi để phè phỡn ở những khu vực biệt lập, có máy phát điện, nước dự trữ, thực phẩm nhập cảng và đặc quyền tiếp cận ngoại tệ – trong một Cuba khác hẳn với phần còn lại của đất nước.
Sự tương phản này làm gia tăng phẫn nộ khiến người dân phải phản đối, từ những tiếng gõ xoong nồi mỗi đêm đến các cuộc biểu tình bộc phát ở nhiều tỉnh. Trong bối cảnh đó, tuyên bố của TT Trump được giới quan sát xem như tín hiệu rằng, Washington có thể tận dụng thời điểm Cuba suy yếu để gia tăng sức ép chiến lược lên Havana. Các tiếp xúc thoi đưa âm thầm cho thấy chính quyền Trump đang cân nhắc bước đi tiếp theo tại Caribe sau chiến dịch quân sự ở Trung Đông. Như thế, các biện pháp siết chặt kinh tế đã khiến Cuba “thay đổi đáng kể”, và Mỹ có thể hành động mạnh mẽ hơn khi rảnh tay hơn ở vùng Vịnh. [1]
Tình hình Cuba đang bước vào một giai đoạn mà nhiều nhà quan sát mô tả là “nghẽn cổ chai”: Tính đến giữa tháng 4 năm 2026, Cuba tiếp tục công bố mức lạm phát chính thức khoảng 12–15%. Cùng lúc, CEPAL (Comisión Económica para América Latina y el Caribe) xếp Cuba vào nhóm “chronic inflation” một trong 3 nước lạm phát cao nhất châu Mỹ La Tinh từ năm 2024 và tiếp tục khủng hoảng đến 2026. Trên thực tế, lạm phát “de facto” tại Cuba được ước tính dao động từ 150% đến 500%, tùy nhóm hàng và khu vực. Những mặt hàng thiết yếu như thịt, dầu ăn, thuốc men, xăng và các dịch vụ vận tải ghi nhận mức tăng 300–500% so với năm trước. Nguyên nhân chính là tỷ giá chợ đen mất kiểm soát: đồng peso giao dịch ở mức cao gấp nhiều lần tỷ giá chính thức, khiến chi phí nhập cảng và giá hàng hóa leo thang theo cấp số nhân. Đồng peso của Cuba so với Mỹ kim vào giữa tháng 4 xe xích đôi chút trong khoảng 525 CUP đổi được 1 Mỹ kim. Tính ra đồng peso Cuba đã mất khoảng 110% giá trị chỉ trong hơn ba tháng đầu năm 2026. [2]

Sự chênh lệch lớn giữa hai mức lạm phát khởi đi từ chỉ số giá tiêu dùng (Consumer Price Index CPI): nhu yếu phẩm trong cửa hàng “mậu dịch” do nhà nước kiêm soát không còn phản ánh thị trường thật. Nhiều mặt hàng do nhà nước thống kê không xuất hiện trong hệ thống phân phối, hoặc được bán với giá mà người dân không thể tiếp cận. Trong khi đó, 90% giao dịch thực tế diễn ra ở thị trường chợ đen, nơi giá cả biến động theo tỷ giá Mỹ kim trên thị trường tự do.
Gần đây Hoa Kỳ gia tăng áp lực lên Cuba, viện dẫn cáo buộc rằng các chương trình đưa bác sĩ Cuba ra nước ngoài mang dấu hiệu “lao động cưỡng bức”. Trung tuần tháng 4, hãng tin AFP dẫn nguồn tin từ Washington xem đây là một hình thức bóc lột có hệ thống, trong khi báo cáo của Inter-American Commission on Human Rights (IACHR) – Ủy ban Nhân quyền Liên Mỹ – cơ quan độc lập thuộc Tổ chức Các quốc gia châu Mỹ (OAS), chuyên theo dõi và báo cáo về tình trạng nhân quyền công bố đầu tháng 4, lại tố cáo Cuba giữ lại phần lớn lương của các y sỹ, tịch thu hộ chiếu và thậm chí đe dọa án tù 8 năm đối với những ai tìm cách ở lại nước ngoài. Từ thập niên 1960, việc huy động bác sỹ và y tá đi công tác quốc tế từng là niềm tự hào và nguồn thu lớn của Cuba, nhưng dưới áp lực từ chính quyền Trump, Guatemala, Honduras, Jamaica và Guyana đã chấm dứt các thỏa thuận y tế với La Habana trong bối cảnh đảo quốc này đang bên bờ khủng hoảng kinh tế. Đến ngày 15 tháng 4, các cuộc mật đàm Mỹ–Cuba không ghi nhận bước tiến nào mới, và Washington chưa đưa ra bất kỳ nhượng bộ nào. Trong khi đó, Chủ tịch Miguel Díaz‑Canel xuất hiện trên truyền thông Mỹ với giọng điệu cứng rắn hơn, tuyên bố Cuba “sẵn sàng chiến đấu”, nhưng đồng thời hé mở vài điều chỉnh: tham gia đối thoại, cho phép đầu tư dầu khí từ Mỹ và tiếp tục các bước nới kinh tế hạn chế. Những tín hiệu này cho thấy Havana đang dịch chuyển chiến thuật để giảm áp lực, dù chưa chấp nhận thay đổi chính trị. [3]
Cho đến nay, kết quả các cuộc mật đàm Mỹ–Cuba đã đưa đến những nhượng bộ nhỏ nhưng có ý nghĩa: dầu được phép vào, tù nhân được thả, đầu tư kiều dân được mở cửa, và hợp tác an ninh được nối lại. Đây chưa phải là đột phá, nhưng là dấu hiệu cho thấy Havana đang tìm đường thoát khỏi thế bí. Tuy nhiên, những nhượng bộ này không giải quyết được gốc rễ: một xã hội kiệt quệ, một nền kinh tế tê liệt và một chế độ đang mất dần tính chính danh.

Trong bối cảnh đó, dân chúng có thể không đủ sức lật đổ chế độ, nhưng họ đang tạo ra một áp lực “bào mòn” buộc chính quyền phải mở cửa kinh tế và nới lỏng chính trị đến mức để tránh sụp đổ. Đây là điểm mà Bắc Kinh lo ngại: nếu Cuba nghiêng về Mỹ để sinh tồn, Trung cộng sẽ dần bị đẩy vào thế “thắt cổ chai”, mất một bàn đạp chiến lược ngay sát nước Mỹ. Tương lai gần của Cuba vì thế sẽ là một quá trình “đổi hướng có kiểm soát”, nơi chế độ cố giữ quyền lực, Mỹ tìm cách giảm ảnh hưởng Nga–Tầu, còn người dân, dù chưa có tổ chức, vẫn là lực đẩy âm thầm nhưng mạnh mẽ nhất.
Sau bị thúc thủ ở Venezuela, nhiều phân tích cho rằng Bắc Kinh sẽ duy trì hiện diện chiến lược tại Cuba nhưng tránh dấn sâu về tài chính, đồng thời phân tán ảnh hưởng sang các nước khác trong khu vực. Cuba vì thế đứng giữa thế kẹp của ba thế lực: áp lực Mỹ, sự dè dặt của Trung cộng và nguồn lực suy yếu của Nga – tạo nên một thế “nghẽn cổ chai” khó thoát trong ngắn hạn.
Trong khi Cuba rơi vào tình huống “thắt cổ chai” vì thiếu ngoại tệ dẫn tới thiếu nhiên liệu, mất điện và tê liệt sản xuất, Việt Nam lại mắc kẹt ở điểm nghẽn thể chế: quyền phê duyệt đầu tư đang chờ đặt vào tay Công An khi dự thảo luật được thông qua. Cuba nghẽn vì không có nguồn lực vật chất để vận hành hệ thống; Việt Nam nghẽn vì vẫn nằm trong khuôn khổ “kinh tế chỉ huy”, nơi mọi quyết định lớn nhỏ đều phải chờ một trung tâm duy nhất.
Đến mùa thu này (9/2026), nếu được thông qua, Bộ Công an nắm trọn quyền thẩm định các dự án phát triển trên cơ sở an ninh quốc gia, áp dụng cho nhiều loại hạ tầng trọng yếu như nhà máy điện hạt nhân, dịch vụ viễn thông và vệ tinh có yếu tố nước ngoài, cảng biển và mỏ dầu khí. [3]
Hai nước chư hầu của Bắc Kinh là Cuba và Việt Nam, mỗi nước ở vào trường hợp “tắc nghẽn” khác nhau, nhưng cũng khiến Bắc Kinh cảm thấy khối cộng sản duy nhất sót lại trong nhân loại đang bị bào mòn. Tình huống này gần giống như các chi thể có những nơi bị “nghẽn mạch máu”. Nhiều “chi thể rũ liệt” sẽ làm cho thân thể có lúc rơi vào tự hủy.

Trong bối cảnh Hoa Kỳ phong tỏa các hải cảng của Iran, gồm cả eo biển Hormuz, cắt đứt “hoàn toàn” hải lộ ngoại thương của Tehran, ảnh hưởng khoảng 90% nền kinh tế, bao vây nguồn “tiếp máu” cho chế độ Cộng Hòa Hồi Giáo Iran. Cùng lúc, Mỹ và Indonesia lại mới ký kết thỏa ước đối tác hợp tác quốc phòng (Major Defense Cooperation Partnership, MDCP), mở ra khả năng Washington kiểm soát eo biển Malacca, tuyến vận tải năng lượng sống còn của Bắc Kinh, ngay trước thềm cuộc gặp thượng đỉnh Trump – Tập tại Bắc Kinh vào giữa tháng 5 tới đây. [4]
Eo biển Malacca với chiều dài 805 cây số, nơi hẹp nhất chỉ 1,2 cây số – nối với Thái Bình Dương ở phía Đông và Ấn Độ Dương ở phía Tây. Mỗi ngày eo biển này có hàng ngàn tầu thuyền qua lại và từng có thời vận chuyển đến 11 triệu thùng dầu trong 1 ngày, cung cấp cho 3 nền kinh tế Trung cộng, Nhật Bản và Hàn quốc.
Theo các phân tích quốc tế, khoảng 80% lượng dầu nhập cảng của Trung cộng đi qua Malacca, còn phần lớn dầu từ Iran và vùng Vịnh phải vượt qua Hormuz. Chỉ cần một trong hai nơi bị gián đoạn, các ngành công nghiệp phụ thuộc dầu – từ hóa dầu, luyện kim đến sản xuất điện – đều có thể bị đình trệ. Vì vậy, nhiều chuyên gia mô tả tình thế này như một dạng “thắt cổ chai chiến lược” đối với Bắc Kinh: chưa “vô vọng”, nhưng là một điểm nghẽn có thể làm giảm tốc độ sản xuất hiện đang được cải thiện trong quý I năm nay (2026).
Khi trật tự toàn cầu biến động, Hormuz hay Malacca hoặc cả hai bị Mỹ phong tỏa, Bắc Kinh lập tức lâm vào thế thắt cổ chai chiến lược, khiến nền kinh tế suy kiệt, bào mòn tính chính danh của chế độ toàn trị; khiến các nước cộng sản cuối cùng cũng “rệu rã”.
Trần nguyên Thao
[1] https://www.cnbc.com/2026/03/05/trump-hints-us-will-turn-to-cuba-after-iran.html
[2]https://en.cibercuba.com/noticias/2025-08-05-u1-e208574-s27061-nid308406-pronostican-otros-dos-anos-penuria-economica-cuba
[3] https://www.bbc.com/vietnamese/articles/cderzw31ngpo
[4] https://media.defense.gov/2026/Apr/13/2003911810/-1/-1/1/READOUT-OF-SECRETARY-OF-WAR-PETE-HEGSETH-MEETING-WITH-INDONESIA-MINISTER-OF-DEFENSE-SJAFRIE-SJAMSOEDDIN.PDF
![]()










































